Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2015

Kiến trúc cảnh quan Đà Lạt

Kiến trúc cảnh quan Đà Lạt

Thiên nhiên của Đà Lạt vốn là một vùng cảnh quan tự nhiên miền núi tuyệt đẹp được kết hợp hài hòa với cảnh quan nhân tạo là những công trình sáng tạo của con người. Từ đầu thế kỷ này, Đà Lạt được lựa chọn xây dựng theo dạng một thành phố - vườn giữa những rừng thông, những đỉnh núi hùng vĩ  Lang Biang (cao hơn thành phố 700-900m) chế ngự mọi tầm nhìn từ thành phố. Dựa theo các sườn đồi là các tòa nhà xinh xắn với tường vôi, ngói đỏ, hình khối đa dạng ẩn hiện khi trên cao, khi dưới thấp dọc theo các trục lộ. Toàn bộ bức tranh đó được tô điểm thêm bằng hình ảnh phẳng lặng của mặt nước hồ tạo thành một bức tranh thủy mặc làm rung động lòng nguời.
Bài toán quan trọng hàng đầu trong lịch sử quy hoạch và phát triển TP. Đà Lạt là xây dựng được một thành phố sinh động, sung túc và đủ điều kiện tiện nghi cho cư dân và du khách mà vẫn bảo vệ được giá trị của phong cảnh thiên nhiên.

Các yếu tố hình khối chủ yếu trong bức tranh phong cảnh của Đà Lạt tạo nên sự xúc cảm cho con người bao gồm: địa hình của đồi núi, mặt nước của suối hồ, màu xanh của rừng thông và kiến trúc độc đáo của công trình xây dựng.

1.1 YẾU TỐ ĐỊA HÌNH
Cao nguyên Lâm Viên (Lang Biang) với bề rộng 12 km có địa hình rất đặc biệt bao gồm những chuỗi đồi thoai thoải dạng cong tròn nhấp nhô, xen kẽ nối tiếp nhau trải dài 18 km đến tận chân rặng núi Lang Biang hùng vĩ án ngự ở phía Bắc như một tấm phông màu xanh thẫm. Sư xâm thực, nhất là sự xói mòn mãnh liệt của các dòng nước; đã mài dần mặt đất, đưa cốt liệu từ vùng đồi cao xuống vùng thung lũng thấp làm địa thế trở nên bằng phẳng hơn.
Đặc trưng của địa hình Đà Lạt là những hình khối chủ yếu, ổn định; chúng chia cắt không gian một cách mạnh mẽ thành những khu vực riêng biệt, rõ nét và tạo nên những chuỗi phong cảnh phong phú, đa dạng. Trong việc xây dựng thành phố trước đây, người ta đã tôn trọng nguyên tắc bảo vệ địa hình tự nhiên; việc áp dụng biện pháp san nền để biến đổi địa hình dốc thành bãi đất bằng đã không được áp dụng trên quy mô lớn.
Các quả đồi cao nhất với rừng thông xanh ngắt quanh năm, mà từ đó người ta có thể quan sát được toàn cảnh của thành phố, đã được chọn lựa để xây dựng những công trình dinh thự, tôn giáo uy nghi, sang trọng:
* Biệt điện số 1: cao độ 1.550,00; phía Đông của TP.
* Biệt điện số 2: cao độ 1.539,50; phía Đông Nam và trông thẳng xuống hồ Xuân Hương, trước đây được xây dựng làm dinh của Toàn quyền Pháp tại Đông Dương.
* Biệt điện số 3: cao độ 1.539,00; phía Tây Nam của TP, trước đây là dinh của Hoàng đế Bảo Đại.
* Đồi "Ngọc Hoàng": cao độ 1.551,00; khu vực dự kiến để xây dựng Phủ toàn quyền Đông Dương theo đồ án quy họach năm 1923 của E. Hébrard, đến nay vẫn còn bỏ trống.
* Dinh tỉnh trưởng cũ: cao độ 1.532; án ngữ trung tâm Chợ Đà Lạt, mà ngày nay là Đài truyền hình Lâm Đồng.
* Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế: cao độ 1.548,20; phía Bắc của TP.
* Lăng Nguyễn Hữu Hào (cha vợ của vua Bảo Đại): cao độ 1.523,00; ở phía Tây của TP và trông xuống thác Cam Ly.
Với diện tích đất rộng lớn bao trùm hẳn một ngọn đồi, các công trình dinh thự nêu trên là một quần thể kiến trúc với tòa nhà chính đồ sộ, kiêu hãnh nằm trên điểm cao nhất; bao bọc xung quanh có hệ sân đường ngoạn cảnh, vườn hoa, bồn nước... dẫn dắt công trình hoà nhập vào khung cảnh thiên nhiên. Các tòa dinh thự này với màu tường sáng, chiếm lĩnh trên các đỉnh cao, ẩn hiện các rặng thông dày với màu lá xanh tươi là những điểm nhấn, điểm chấm phá trong bức tranh phong cảnh tổng thể của thành phố.
Các trung tâm công cộng về hành chính, văn hóa, giáo dục, du lịch, thương mại... (tòa hành chánh, bưu điện, nhà thờ, trường học, chợ, công sở...) được bố trí trên những ngọn đồi hay những khu đất rộng rãi và bằng phẳng nhằm xây dựng hệ thống giao thông dễ dàng thuận lợi với những đại lộ lớn, thẳng và ít dốc (như trục đường Trần Phú, Trần Hưng Đạo, Hùng Vương, Chi Lăng, Phan Đình Phùng...). Ngoài ra, do không phải cải tạo địa hình nên các trung tâm này mặc dù chiếm những không gian lớn cũng không làm thay đổi các đường cong tự nhiên của địa thế.
Việc xây dựng các khu biệt thự rất được chú trọng do sự hòa nhập hoàn toàn của công trình kiến trúc vào thiên nhiên, với địa hình và rừng thông được giữ hầu như nguyên vẹn. Người ta đã sắp xếp các tòa biệt thự với nhiều tầng nhiều cấp theo sát đường đồng mức để bám lấy địa hình mà không phải phá hủy nó. Do lấy thiên nhiên làm nền, làm không gian chính của cảnh quan nên người ta đã khống chế phạm vi xây dựng ở mật độ rất thấp so với diện tích phân lô rất lớn.
Các khu vực đất thấp dưới các thung lũng lớn, ở khuất và xa trung tâm thành phố được bố trí cho khu vực dân cư làm nông nghiệp. Đất đai được phân lô đủ lớn để sản xuất và dựng nhà, do đó tính chất thành phố - vườn vẫn được tìm thấy tại khu vực này, (ấp Hà Đông, Nghệ Tĩnh, Đa Thiện, Thái Phiên, Nam Hồ, Trại Hầm, Trại Mát, Thánh Mẫu...). Do đặc tính của việc sản xuất nông nghiệp, người dân cần thửa vườn rộng và phẳng để tưới tiêu và chăm bón nên đã cải tạo địa hình dốc thành những thửa đất dạng bậc cấp đi từ các thung lũng lên các sườn đồi bao quanh. Trong chừng mực nào đó, việc cải tạo này dưới các thung lũng thấp không ảnh hưởng nhiều đến cảnh quan. Nhưng một khi phương thức canh tác này phát triển không kiểm soát được trong tầm nhìn của cảnh quan chính hay lan tràn vào lưu vực các suối chính thì nó thật sự trở thành một hiểm họa to lớn. Đó là nguyên nhân chủ yếu làm cho hồ Mê Linh và hồ Vạn Kiếp đã hoàn toàn mất dạng và một phần của hồ Xuân Hương đã trở thành bãi đất bồi với cỏ mọc và trâu bò có thể qua lại được.

BẢNG 1*


Loại công trìnhDiện tích phân lôMật độ xây dựng
Biệt thự loại A>2.000m2<10%
Biệt thự loại B1.500m215%
Biệt thự loại C1.000m220%
Nhà biệt lập loại D800m225%
Nhà biệt lập loại E200-500m230%
Nhà phố loại F,G80-100m260-70%
* Số liệu ghi nhận trước năm 1970
Trong chương trình sử dụng đất từ năm 1942 đến nay, để giải quyết việc di dân của người Việt, người ta đã thực hiện ý định bố trí khu ngoại ô của thành phố cho cư dân lao động sản xuất nông nghệp. Khu vực này trước đây được kiểm soát chặt chẽ trong một ranh giới nhất định. Trong một khoảng không gian rộng hình rẻ quạt về phía Bắc của thành phố, các quả đồi đẹp và hoang sơ từ hồ Xuân Hương đến tận rừng núi Lang Biang đã được giữ gìn để du khách thưởng ngoạn trọn vẹn vẻ đẹp hùng vĩ của cao nguyên. Một vài công trình quốc gia như Lò phản ứng hạt nhân, Giáo hoàng học viện, Trường đại học Đà Lạt hình thành trong thập niên 1950-1960 trên những quả đồi có độ cao trung bình, thấp thoáng giữa những rặng thông đã tô điểm thêm vào bức tranh phong cảnh tĩnh mịch đó những nét chấm phá sinh động.
1.2 YẾU TỐ MẶT NƯỚC
Giữa các quả đồi là các thung lũng có nhiều suối nhỏ mà dòng suối quan trọng nhất chảy qua Đà Lạt là dòng Cam Ly. Việc sắp xếp thành phố đã được thực hiện phần lớn dọc hai bờ con suối này. Từ năm 1900, kỹ sư Rousselle đã có ý nghĩ tạo lập một hồ nước nhân tạo. Hồ Xuân Hương đã được thành hình một phần vào năm 1919 khi đắp xong đập thứ nhất, năm 1923 hồ được mở rộng, và đến năm 1935 thì hoàn chỉnh như ngày nay sau khi xây dựng đập Cầu Ông Đạo và loại bỏ các đập cũ bị bể vỡ. Từ đó đến nay việc tạo thêm các hồ nước nhân tạo đã gia tăng đều đặn và gắn liền với lịch sử phát triển của thành phố, và là những công trình kỹ thuật có giá trị nhất nối liền con người với thiên nhiên.
Năm 1923 E. Hébrard đã đề xuất quy hoạch thành phố Đà Lạt xung quanh một chuỗi hồ nhân tạo, mỗi hồ nước là một nhân trung tâm của một phân khu chức năng, theo dòng Cam Ly kể từ thượng lưu sẽ gồm:
* Hồ Than Thở: ở đầu nguồn, vừa cung cấp nước uống vừa là hồ cảnh, đã cùng với các đồi thông chung quanh tạo thành bức tranh hữu tình nổi tiếng.
* Một hồ nước dự kiến tạo thành tại khu vực giữa Chi Lăng và Thái Phiên, là tâm điểm của Trung tâm hành chính trung ương.
* Hai hồ nước nhỏ dự kiến giữa khu vực trường học ở phía Nam và trại lính ở phía Bắc (khu vực phía Bắc Cô Giang ngày nay).
* Hồ Xuân Hương: rộng lớn nhất và tồn tại đến ngày nay, là bố cục của một công viên trung tâm. Các khách sạn du lịch và khu giải trí được bố trí ở bờ phía Nam, vườn hoa, sân golf và khu dự kiến phân lô biệt thự ở bờ phía Bắc. Bố cục chính của khu vực này đã được tổ chức theo đồ án của E. Hébrard, J. Lagisquet và hầu như không có sự thay đổi nào đáng kể cho tới ngày nay, ngoại trừ việc dự kiến xây dựng biệt thự đã không được thực hiện do e ngại sẽ làm hủy hoại tầm nhìn phong cảnh tuyệt đẹp về phiá Lang Biang.
* Hồ nước cuối cùng được dự kiến trước khi dòng suối chảy đến thác.
Mặc dù không được thực hiện trọn vẹn, sáng kiến này đến nay vẫn giữ nguyên giá trị của nó. Nếu được thực hiện trong tương lai, sáng kiến này sẽ làm tăng vẻ đẹp của phong cảnh, vừa làm tăng giá trị của đất đai xung quanh các hồ, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường sinh thái trong thành phố (Xem bản đồ E. Hébrard).
Tính đến nay, tại TP Đà Lạt đã xây dựng được 8 hồ lớn nhỏ với:
- Tổng diện tích lưu vực (TDTLV): 50km2
- Tổng diện tích mặt nước (TDTMN): 121 ha
- Tổng dung tích hồ (TDTH) : 6,16 triệu m3 nước.
(Không kể đến 2 hồ đã bị bồi lắng hoàn toàn là Vạn Kiếp và Mê Linh).
Nếu tính cả các hồ thuộc vùng phụ cận mà quan trọng nhất là các hồ: Dankia, Suối Vàng, Tuyền Lâm thì TDTLV là 100km2, TDTMN: 756 ha, TDTH: 18,24 triệu m3 nước.
Như vậy, tỷ lệ của diện tích mặt nước so với tổng diện tích đất của cao nguyên là khoảng 4%, một tỷ lệ khá cao nếu so sánh với những thành phố khác.
Ngoài công dụng cung cấp nước uống cho cư dân thành phố, điều hoà nước tưới cho nông dân, suối và hồ nước là trung tâm của các thắng cảnh: không cảnh đẹp nào của Đà Lạt mà thiếu vắng hình ảnh phẳng lặng và thoáng mát của mặt nước. Nó phản chiếu cảnh vật, làm tăng chiều cao không gian, điều hòa vi khí hậu, tạo bầu không khí trong lành và cảm giác thanh bình cho du khách.
Hồ Xuân Hương là bố cục chính của vùng trung tâm, nơi quần tụ của công trình khách sạn, công trình công cộng, khu thể thao, nhà thủy tạ tại bờ phía Nam. Khoảng trống của hồ đã tạo được tầm nhìn gắn bó với bờ đối diện là vùng đồi và các chòm thông xanh được giữ gìn như một công viên thiên nhiên dưới chân rặng núi Lang Biang. Điạ hình khu vực lồi lõm, đường vòng trên bờ quanh co ẩn khuất sau những rặng cây đã tạo nên cảm giác thú vị cho người ngoạn cảnh và làm cho mặt hồ như rộng lớn hơn.
Nhà thủy tạ (La Grenouillère) có kiến trúc đơn giản với mặt đứng chỉ gồm những nét thẳng, dứt khoát và thanh mảnh, được quét màu vôi trắng như nổi lên giữa màu xanh của quang cảnh thiên nhiên, đó là điểm nhấn không thể thiếu được tạo thêm sự duyên dáng cho mặt hồ.
Trong đồ án năm 1943 của KTS J. Lagisquet, người ta đã dự trù bố trí một công viên dạng bậc cấp từ Biệt điện số 2 đến hồ Xuân Hương, bao gồm những vườn hoa, cây cảnh, bể và thác phun nước, và các lối đi cho người thưởng ngoạn. Nếu thực hiện được dự án này, Đà Lạt sẽ có thêm một phong cảnh đặc sắc, liên hoan bao gồm kiến trúc nguy nga của dinh thự, có cây cảnh và vườn hoa rực rỡ trải dài từ trên đồi cao đến mặt hồ.
1.3 YẾU TỐ VỀ KIẾN TRÚC CÔNG TRÌNH
Trong địa hình bằng phẳng, việc quy hoạch theo ô bàn cờ là giải pháp tối ưu về nhiều phưong diện. Để tạo hình cho đô thị trong trường hợp này người ta phải dùng đến các biện pháp: đắp đất tạo đồi, đào hồ tạo mặt nước, mở các quảng trường để tạo thành các không gian biến động.
Thành phố Đà Lạt với địa hình không bằng phẳng đã tạo thành những không gian linh động, biến đổi không ngừng trên mỗi bước đi.
Từ trên đường Trần Hưng Đạo, giữa rừng thông cao vút, khi nhìn qua phía Bắc ta sẽ có một phong cảnh kỳ ảo: dãy Lang Biang xanh thẫm hiện ra ở cuối chân trời với hình dáng hùng vĩ, mềm mại làm nền cho toàn cảnh bức tranh, gần hơn và dưới thấp là những quả đồi tròn ẩn hiện nhấp nhô, và đây đó là những rặng thông soi bóng xuống mặt hồ Xuân Hương phẳng lặng. Phong cảnh này lại được lặp lại nhiều lần với nhiều hình thái khác nhau trên các đoạn đường cao như Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Chí Thanh...
Từ trung tâm thành phố, ta đã thấy xa xa ẩn hiện đỉnh tháp chuông của nhà thờ Chánh Toà trên những rặng thông. Khi vừa bước chân qua khỏi khúc quanh của dốc Lê Đại Hành, ta bất ngờ diện kiến một công trình sừng sững và cao vút. Tiếp sau sự ngạc nhiên đầy thích thú là cảm giác tôn kính và sự ngưỡng mộ đối với một công trình kiến trúc đặc sắc. Để giữ vẻ trang nghiêm, ngoài hình dáng kiến trúc đối xứng theo chủ nghĩa kiến trúc cổ điển, công trình còn được án ngữ bằng một đảo giao thông trước mặt tiền, để tránh cho đường lộ hướng trực tiếp vào cổng nhà thờ.
Vượt qua đèo Prenn giữa rừng thông san sát, vừa đến cửa ngõ thành phố tại bến xe, ta đã được thưởng ngoạn một tầm nhìn bao quát toàn bộ thành phố: từng lớp nhà xếp trên nhau và trải dài xuống thung lũng, ẩn hiện trong màu xanh của cây và sương khói. Về đêm, bầu trời dường như tràn xuống dưới chân du khách với muôn ngàn ánh sao lấp lánh, ở thành phố đồng bằng ta chỉ thấy được điều này từ trên máy bay.
1.3.1 Dinh thự
    Đà Lạt có các dinh thự lớn là Biệt điện số 1, 2 và 3. Đây chính là nơi để nghỉ mát và làm việc được xây dựng theo dạng cung điện dành cho các nguyên thủ quốc gia.
- Dinh 1 là một quần thể công trình lớn xây dựng trên một diện tích đất hơn 60 ha, ngôi nhà chính là một tòa nhà một hầm, một trệt, một lầu, mái lợp ngói đỏ, hình thức mang dáng dấp kiến trúc châu Âu cuối thế kỷ XIX. Hai hàng cây cao có thân trắng xốp ven lối vào công trình nổi bật trong nền rừng thông sẫm. Giữa con đường là một đảo hoa xoay đến công trình chính, mặt bằng công trình đối xứng với lối vào ở giữa và hệ thống cầu thang, hành lang trổ ra hai bên. Quanh đó là một số biệt thự lớn khác (nhà cận vệ quân, ngự lâm quân, các nhà phục vụ...) và một hệ thống sân vườn, bể cảnh, đường đi dạo đã tạo thành một quần thể hoàn chỉnh.
- Dinh 2 và Dinh 3: Khác với trường phái học viện của công trình trên, đây là những công trình chịu ảnh hưởng của trào lưu cách tân kiến trúc ở châu Âu lúc bấy giờ (1920-1930) do Le Corbusier và Gropius đề xướng. Lúc này, kiến trúc đã bắt đầu phi đối xứng và đi vào yếu tố hình khối, bố cục tự do. Đây là những công trình đồ sộ với mái bằng, hình khối, bố cục tuy cân đối nhưng không đối xứng, có cùng một thời điểm xây dựng 1933-1938. Mặt bằng được bố cục tương đối hiện đại, toàn bộ tầng trệt dành cho các phòng làm việc và tiếp khách gắn với các tiểu cảnh kiến trúc công viên, vườn. Ở đây, không gian kiến trúc bên trong và bên ngoài hoà lẫn vào nhau quanh các lối đi và cửa sổ kính bằng khung thép rất lớn, hoặc qua các sân vườn có cột trụ bao quanh để tạo thành những không gian chuyển tiếp.
Toàn bộ phận lầu được dành riêng cho sinh hoạt gia đình. Hai công trình này đều có sảnh lớn vươn ra làm mái che để đón khách khi xe đỗ, đây là một phương pháp thể hiện mới tại thời điểm nhằm tạo thêm sự uy nghi, bề thế cho công trình.
Hình thức kiến trúc ở hai công trình này cũng bắt đầu khác, chủ yếu đi vào bố cục hình khối chứ ít đi vào chi tiết. Mặt bằng linh động, lồi lõm tạo thành những mảng hình khối lớn.
1.3.2 Biệt thự
Biệt thự được phân chia thành nhiều hạng theo diện tích phân lô của đất xây dựng - Biệt thự tiêu chuẩn cao (DTPL>1.500m2) là nơi ở hay nghỉ mát dành cho tầng lớp thượng lưu trước đây, gồm các khu Trần Hưng Đạo, Hùng Vương, Lê Hồng Phong, Lê Lai, Nguyễn Du... đều nằm xa trục đường chính. Các ông trình được bố trí cách xa nhau từ vài chục đến vài trăm mét.
Tầng hầm được xây dựng theo địa hình với nền nhà rất cao (> 40cm) và thường có cầu thang được bố trí ngoài trời để vào tầng trệt. Tầng trệt có sảnh, tiền sảnh và phòng khách rộng rãi, độ cao tầng rất lớn (có khi đến 6m). Tầng trên là các phòng ngủ, phòng sinh hoạt gia đình hay terrasse...
Cũng như dinh thự, các biệt thự này được xây dựng theo hai thể loại:
- Thể loại thứ nhất theo trào lưu cổ điển được xây dựng nhiều vào thời kỳ đầu với bố cục mặt bằng đơn giản, thường đi sâu vào các chi tiết mặt đứng. Nhà mái ngói có độ dốc lớn, mặt bằng đơn giản có nguồn gốc từ kiểu kiến trúc xứ lạnh miền Bắc nước Pháp, loại biệt thự này thể hiện ở cách trình bày cầu kỳ của các chi tiết mái, cầu thang, chi tiết trang trí trên cửa sổ, cửa đi, và đặc biệt là những hoa văn ở những vòm cuốn giả trên cửa có tính nghệ thuật cao.
- Thể loại thứ hai với bố cục mặt bằng tự do và linh động, được bố trí tùy theo địa hình hay chức năng sử dụng, đã tạo thành hình khối công trình đa dạng hơn: mái nhà được lợp ngói hoặc làm mái bằng bêtông cốt thép, kiểu dáng tương tự kiến trúc miền Nam nước Pháp hay miền Địa Trung Hải, đã bắt đầu chịu ảnh hưởng của kiến trúc hiện đại. Loại này được xây dựng về sau và phát triển cho đến nay, kiến trúc hướng vào nghệ thuật tạo hình khối và tổ chức sân vườn chung quanh. Ở đây, không gian ở và môi trường tự nhiên đã được xử lý bằng những trung gian như mái hiên, vườn cảnh... tạo thành một hệ thống không gian liên tục.
Mỗi một biệt thự là một đóa hoa kiến trúc xinh đẹp và cả thành phố là một vườn hoa lớn với những trục đường biệt thự muôn hình muôn vẻ. Những tòa nhà này với kiểu dáng phong phú có nguồn gốc xuất xứ từ nhiều thể loại kiến trúc nhà ở của nhiều địa phương của nước Pháp:
- Kiến trúc vùng Normandie (phía Tây Bắc nước Pháp): Kiểu nhà mái ngói lớn với phần đuôi được bẻ góc, có tường xây đá chẻ đến hệ cửa sổ và phần bên trên xây gạch để lộ các khung sườn gỗ.
- Kiến trúc vùng Bretagne (phía Tây nước Pháp): Kiểu nhà mái lợp bản thạch (ardoise) có tường xây đá chẻ với tường hồi có viền xây cao hơn mái.
- Kiến trúc vùng Pays Basque (phía Tây Nam nước Pháp): Có tường hồi quay ra mặt tiền với khung sườn nổi và có mái vươn rộng ra khơi tường.
- Kiến trúc vùng Savoie (phía Đông Nam nước Pháp): Đặc điểm như kiến trúc vùng Pays Basque nhưng tầng dưới được xây, còn tầng trên được đóng bằng gỗ và có balcon rộng...
Ngoài ra, thành phố cũng có các khu biệt thự hạng vừa (DTPL < 1.000m2) và các nhà biệt lập có sân vườn (DTPL<500m2) là loại công trình được phổ biến tại trung tâm thành phố, dành cho tầng lớp trung lưu, công chức trước đây như các trục: Hai Bà Trưng, Hoàng Diệu, Trần Bình Trọng, Yết Kiêu, Bùi Thị Xuân... Nhà có mặt bằng đơn giản, mái lợp ngói, tường xây gạch quét vôi, có nơi làm bằng gỗ theo thiết kế điển hình (trước 1954). Để giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên của đồi núi, tất cả các công trình kiến trúc đều được xây dựng theo khoảng lùi quy định, nhờ khoảng cách này đường vào nhà dễ dàng với độ dốc nhỏ, cũng như tạo được một khoảng sân làm vườn hoa trước mỗi công trình.
1.3.3 Kiến trúc trường học
Đa số các ngôi trường lớn ở thành phố Đà Lạt đều có phong cách kiến trúc tương đối giống nhau. Mặt bằng ổn định gồm các dãy lớp học, một hoặc hai tầng. Đa số đều lợp mái ngói và console gỗ có nguồn gốc từ kiến trúc địa phương của Pháp, console có những chi tiết gia công rất công phu vừa để đỡ mái ngói vươn ra, vừa để trang trí. Đặc biệt, trường Lycée Yersin là một kiểu kiến trúc độc đáo về trường học hiếm thấy ở nước ta, mặt bằng tuy vẫn ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cổ điển, nhưng đã vượt lên bằng cách tự uốn mình theo một đường cung tròn mềm mại ôm lấy một khoảng sân bên trong rất lớn và bằng dấu nhấn mạnh mẽ là tháp chuông lợp bản thạch vươn cao giữa rặng thông và hướng về mặt nước hồ Xuân Hương.
Toàn cảnh Trường Cao đẳng sư phạm Đà Lạt
(Trường Trung học Yersin cũ)
1.3.4 Công sở và công trình công cộng
Đại bộ phận các công sở ở thành phố Đà Lạt đều là những biệt thự lớn có sân vườn, công viên rộng rãi bao quanh, với hình thức kiến trúc đối xứng, trang nghiêm và có mặt bằng đơn giản.
Nha địa dư (hiện nay là Xí nghiệp bản đồ II) là một thí dụ điển hình của công trình kiến trúc đồ sộ có hình khối vuông vức với mái ngói cao, mặt tường bằng khối xây gạch đá tạo cho ta một cảm giác uy nghi, quyền lực. Tòa nhà được bố trí với hành lang giữa, hai dãy phòng làm việc ở hai bên và chính giữa là cầu thang, tiền sảnh.
Nằm bên cạnh Đồi Cù ẩn mình trong cây xanh, Giáo hoàng học viện Pio X là một công trình tân kỳ đã giải quyết thành công mối tương quan giữa kiến trúc và cảnh quan. Để bảo đảm được nhu cầu của hàng trăm người vừa sinh hoạt vừa học tập. KTS. Tô Công Văn đã thiết kế một khối nhà bốn tầng và một khối khác hai tầng bên nhau, toàn bộ diện tích đất còn lại (hơn 80%) được dành cho các vườn hoa, thảm cỏ, cây cảnh, sân thể dục thể thao, đường giao thông và đi dạo.
1.3.5 Nhà ở khu dân cư làm nông nghiệp
Nhà liền vườn là dạng kiến trúc nông thôn Việt Nam rất phổ biến trong khu ngoại ô thành phố và quây quần lại thành từng làng xóm (hay còn gọi là "ấp") mang tính địa phương của quê quán cư dân. Ấp của người Việt tại Đà Lạt quy tụ dọc theo các đường lộ ngoài khu trung tâm và phát triển sâu đến các dòng suối của khu vực. Đó là quần thể nhà ở kết hợp với vườn sản xuất các loại hoa, rau quả cho Đà Lạt. Các ấp nông nghiệp này hiện nay chiếm một bộ phận đất đai lớn của Đà Lạt (trên 20% diện tích thành phố).
Nhà ở là những ngôi nhà nền đất cao đến 40cm, có bố cục số gian lẻ thường là ba gian, có kết cấu khung gỗ chịu lực, mái lợp ngói hay tôn. Nhà thường có hiên phía trước, có khi ở đầu hồi hoặc quanh nhà, đó là không gian chuyển tiếp giữa trong và ngoài nhà, có tác dụng che nắng mưa, để đón khách hay nghỉ ngơi. Ngôi nhà thường được bố trí giữa vườn cây ăn quả, có sân rộng trước nhà cùng với mái hiên, dàn cây phong lan, cây kiểng, hòn non bộ tạo thành một tiểu cảnh mô phỏng thiên nhiên cô đọng và hữu tình.
Ta có thể quan sát một khu dân cư đặc trưng loại này tại ấp Hà Đông, Đa Thiện, Tùng Lâm hay Nam Hồ. Ở đây, nhà ở mang tính chất nhà vườn, diện tích cho mỗi lô đất từ 1.500m2-3.000m2 khoảng 100m2-200m2 đất dành cho nhà ở, nhà kho, công trình phụ và lối đi, còn lại là vườn cây ăn quả và rau hoa Đà Lạt.
Kiến trúc của từng công trình rất đơn giản, được xây dựng theo dạng nhà nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, nhìn toàn cảnh, đây lại là một bức tranh đặc sắc ngoạn mục.
Từ trên quốc lộ 20, qua đoạn núi cao trên đường đi Trại Mát, ta quan sát được toàn bộ thôn ấp nằm dưới thấp với phần đất trồng rau rộng lớn dạng bậc thang chạy dài xuống tới đáy thung lũng với dòng suối nhỏ và hồ chứa nước. Đây đó là những mái nhà xinh xinh, nhỏ bé được che khuất một phần bởi những vườn cây ăn quả. Hiện còn rất nhiều vùng đất trống tương tự ven thành phố hội đủ những điều kiện để phát triển cho cư dân làm nghề nông, việc thành lập các thôn ấp như trên là một định hướng tốt đẹp góp phần giải quyết việc gia tăng dân số cho thành phố.
1.3.6 Nhà phố và nhà liền căn
Nhà phố trước đây chỉ được quy hoạch trong các trung tâm thương mại sử dụng để buôn bán và để ở, được xây dựng liên kế thành từng dãy 6-8 căn có từ 1-2 tầng lầu. Mặt bằng nhà là hình chữ nhật (rộng từ 4-5m, dài từ 12-16m) không đòi hỏi diện tìch đất lớn và có mật độ xây dựng 60-70% diện tích đất. Hiện nay, loại nhà này có khuynh hướng phát triển tràn lan, kể cả ngoài các khu thương mại do áp lực của sự khan hiếm đất xây dựng, điều này gây phương hại đến bộ mặt kiến trúc của thành phố do hình khối đơn điệu và nghèo nàn, mật độ xây dựng quá cao nên thiếu sân vườn và chỉ có điều kiện tối thiểu về chiếu sáng, thông gió tự nhiên.
1.4 YẾU TỐ CÂY XANH TRONG KIẾN TRÚC CẢNH QUAN CỦA THÀNH PHỐ
Nói đến cao nguyên Lang Biang, người ta liên tưởng ngay đến rừng thông và thác nước. Rừng thông bao quanh Đà Lạt là rừng tùng loại (forêt de conifères) chiếm một diện tích rất lớn, ngoài ra cũng có nhiều rừng cây diệp loại (forêt de feuillus) như: giẻ, sồi...
Đà Lạt là một thành phố được hình thành giữa rừng thông. Sau quá trình xây dựng, những rặng thông còn lại đã được giữ gìn và trở thành cây xanh đô thị. Màu xanh của rừng thông đã là bức nền chính luôn gắn liền với mọi bức tranh của thành phố, tôn cao các phối cảnh đẹp của kiến trúc công trình và cũng che giấu những bề mặt xấu. Thông thường màu đỏ và màu xanh là hai màu tương phản khó hài hoà, nhưng trong bức tranh phong cảnh, màu đỏ gạch của mái ngói lại tạo thành những điểm nhấn ấm áp, nổi lên trong màu xanh thẫm của nền rừng thông.
Tỷ lệ xây dựng của toàn thành phố thường không quá 15% diện tích đất, một phần còn lại chính là rừng thông được giữ lại làm vườn cảnh, cây xanh công trình. Ngoài ra trong trung tâm thành phố, người ta đã dành một số khoảng đất trống được bảo vệ làm công viên. Đây là các rừng thông nhỏ liên hoàn lại thành mảng cây xanh cho toàn thành phố, tạo cho khung cảnh vẻ tĩnh mịch của rừng núi cao nguyên.
Ngoài thành phố là vùng đất rộng lớn về phía bắc được dành riêng để bảo tồn rừng cảnh quan phục vụ săn bắn, ngoạn cảnh và du lịch... nhiều khoảng trống khác được dành cho khu thể thao, cắm trại, công viên hay bất kiến tạo. Tổng cộng diện tích này lên đến 10.000 ha, chiếm 60% diện tích thành phố (theo đồ án quy hoạch của J. Lagisquet). Điều này nhằm bảo vệ những giá trị tự nhiên của thắng cảnh Đà Lạt, chống lại sự khai phá thái quá của con người.
Trong 100 năm qua, từ một vùng cao nguyên hoang dã, cư dân thưa thớt, Đà Lạt đã trở thành một thành phố nổi tiếng có trên mười vạn dân với mạng lưới kỹ thuật hạ tầng rộng khắp và những công trình kiến trúc đa dạng.
Lịch sử quy hoạch phát triển thành phố Đà Lạt có thể chia ra thành những giai đoạn sau đây:
2.1 Giai đoạn hình thành trạm nghỉ dưỡng vùng cao (1900-1922)
Vào những năm 1897-1899, khi quyết định chọn cao nguyên Lang Biang làm địa điểm xây dựng trạm nghỉ dưỡng theo đề nghị của Bác sĩ Yersin. Toàn quyền Doumer đã quyết định đặt trạm nghỉ dưỡng tại Dankia, cách Đà Lạt 15km về phía Bắc - Tây Bắc.
Nhưng đồng thời với việc xây dựng các tuyến giao thông các cơ sở hạ tầng ban đầu, đã xuất hiện nhiều ý kiến đề nghị chọn Đà Lạt thay vì Dankia.
Trong một điệp văn bàn về địa điểm xây dựng một trạm nghỉ dưỡng tại Lang Biang (30.3.1900). A. Capus - Giám đốc Nha nông nghiệp và thương mại Đông Dương - đã nêu rõ những ưu điểm của Đà Lạt: độ cao 1.500m, hoàn toàn thoáng đãng, tầng đất ngầm thẩm thấu trên nền đá hoa cương, có bóng mát của rừng từng loại. Có thể nhìn bao quát toàn thể cao nguyên và toàn dãy núi ở phía chân trời.
Năm 1902, trong một tác phẩm nhan đề "Phái đoàn Lang Biang" (La mission du Lang Biang). Bác sĩ E.Tardif đã phân tích những ưu thế của Đà Lạt so với Dankia, có thể tóm tắt như sau:
* Về địa hình: Đà Lạt ở độ cao trung bình 1.500m bao gồm những dãy đồi bằng phẳng có độ dốc thoai thoải, với lớp đất sét mỏng phù hợp cho việc trồng trọt. Trong khi đó, Dankia thấp hơn 100m, tức nằm trong lòng chảo giữa Đà Lạt và rặng núi Lang Biang, chỉ gồm những đồi núi nhỏ với độ dốc lớn và những thung lũng lầy lội có lớp đất sét quá dày nên ít thấm nước. Do các ưu thế đó, Đà Lạt có các điều kiện về vệ sinh, cấp thoát nước và xây dựng đường sá tốt hơn Dankia.
* Về khí hậu: Không khí Đà Lạt thoáng mát, trong lành và ít ẩm, trong khi Dankia nằm bên sườn núi Lang Biang có nhiều gió ẩm, mưa rào và sương mù kéo dài tới 9-10 giờ mới tan.
* Về cảnh quan và thảo mộc: Dankia có nhiều đồi cỏ xanh và tầm nhìn bị giới hạn trong lòng chảo, trong khi Đà Lạt lại có rất nhiều rừng thông với mùi hương thơm của nhựa lan tỏa khắp nơi và tầm nhìn bao quát được toàn cảnh cao nguyên với rặng núi Lang Biang hùng vĩ trải rộng phía chân trời.
* Nguồn vật liệu xây dựng: ở Đà Lạt gần hơn so với Dankia.
Cuộc tranh luận về địa điểm xây dựng trạm nghỉ dưỡng đã được giải quyết vào năm 1906, dưới thời Champoudry làm thị trưởng. Vốn là một trắc địa viên và từng làm Chủ tịch Hội đồng thị chính Paris, Champoudry đã sơ phác một họa đồ quy hoạch và phân lô cho thành phố Đà Lạt. Do có nhiều kinh nghiệm về vấn đề đô thị, ông đã thiết lập dự án theo phương pháp "zoning"(phân khu), thể hiện được ranh giới giữa những khu có chức năng khác nhau và dự trữ đất cho các công trình tương lai với những đặc đểm sau:
- Trung tâm công cộng và hành chính hợp thành một khu.
- Trung tâm thương mại thiết lập gần chợ và trung tâm thành phố (trong vùng này còn có khách sạn và khu casino). Nhà ga được dự trù ở gần địa điểm hiện nay và cạnh đó là trụ sở bưu điện.
- Đường sá được thiết kế với bề rộng 20m cho đường chính, 16m và 12m cho đường hạng 2.
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, người Pháp không thể về nghỉ hè tại châu Âu đã lên nghỉ tại Đà Lạt với lượng người đông hơn. Đà Lạt đã trở thành trạm nghỉ dưỡng nổi tiếng và khoảng năm chục căn nhà gỗ đã được dựng lên gấp rút, nhịp độ xây dựng tăng lên với những công trình xây dựng, giao thông quan trọng: Hôtel du Langbian Palace, Hôtel du Parc, đường nội thị, Hồ Lớn Đà Lạt (nay là hồ Xuân Hương), quốc lộ Phan Rang lên Đà Lạt, bưu điện, trường Nazareth, ngân khố, nhà máy điện, nhà máy nước...
Trước sự phát triển này, chính phủ Đông Dương nhận thấy cần phải có một "Đồ án chỉnh trang tổng quát" để điều hành việc phát triển Đà Lạt. Năm 1921, Toàn quyền Maurice Long đã giao trách nhiệm thiết lập đồ án cho kiến trúc sư Ernest Hébrard, một kiến trúc sư từng tham gia trùng tu thành phố cổ Salonique (ở Hy Lạp).
2.2 Giai đoạn phát triển thành phố (1923-1954)
Năm 1923, Hébrard hoàn tất đồ án, theo đó Đà Lạt sẽ là một thành phố nghỉ mát trên cao. Đây là lần đầu tiên các vấn đề phức tạp của đô thị Đà Lạt đã được nghiên cứu một cách công phu.
Thành phố được bố trí với diện tích vừa phải khoảng 30.000 ha (bề ngang 7 km theo hướng Đông Tây, bề sâu 4,3km theo hướng Nam Bắc) chiếm 14% diện tích cao nguyên. Đây là một diện tích hợp lý cho một thành phố vườn với quy mô dân số từ 30.000-50.000 dân. Ngoài phạm vi thành phố là cảnh quan của đồi núi và rừng thiên nhiên được giữ gìn như lúc ban sơ, với con đường Vòng Lâm Viên làm đường giao thông phục vụ nhu cầu du lịch, ngoạn cảnh và săn bắn.
Vấn đề bảo vệ cảnh quan và bố cục không gian mỹ cảm cho thành phố đã được tác giả quan tâm đặc biệt. Ý tưởng của tác giả là thiết lập một thành phố phong cảnh: thành phố trong rừng cây và rừng cây trong thành phố. Nét nổi bật của đồ án là cách giải quyết vấn đề cảnh quan đô thị. Dòng suối Cam Ly được tôn tạo tích cực để trở thành một trục cảnh quan hấp dẫn cho thành phố, với hệ thống 6 hồ nhân tạo lớn, nhỏ có các trục đường bao quanh men theo sườn các thung lũng. Bố cục chính của thành phố nghỉ mát và thủ đô tương lai được tổ chức quanh trục cảnh quan này, mỗi hồ là nhân của một phân khu chức năng như đã trình bày trong phần trên.
Nằm về phía Đông Bắc và cách ly hẳn với trung tâm thành phố là Trung tâm hành chánh trung ương bố trí xung quanh một hồ nhân tạo (dự kiến tại khu vực Thái Phiên và Chi Lăng ngày nay).
Nối với quốc lộ là trục đường xương sống của thành phố, kéo dài từ nhà ga đến thác Cam Ly, dựa theo đường đỉnh của địa hình khu vực (Hùng Vương, Trần Hưng Đạo, Trần Phú ngày nay). Trung tâm công cộng và hành chính của thành phố được bố trí trên một đoạn của trục lộ, ngoài ra còn có ngân khố, bưu điện, cảnh sát, công chánh, nhà thờ, trường học, thư viện, khách sạn hạng 2, khu thương mại người Âu, văn phòng du lịch ...
Xa hơn về phía Tây Nam là Dinh Toàn quyền và cạnh đó là Viện điều dưỡng.
Khu vực phân lô biệt thự cho người Pháp được tập trung ở phía Nam suối Cam Ly (đường Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Cô Giang, Phan Chu Trinh, Hoàng Văn Thụ, Huyền Trân Công Chúa ngày nay) được phân lô thành 3 hạng (>2.300m2; < 2.300m2; >700m2).
Khu vực dành cho người Việt Nam được bố trí một phần về phía nhà ga, về phía Đông và tập trung nhất ở khu vực làng Việt Nam cũ phía hạ lưu hồ (giới hạn bởi đường phân thủy qua đồi Dinh Thị Trưởng đổ về suối Phan Đình Phùng) gồm có : chợ, trường học, chùa, công viên, lò sát sinh, khu cư dân... Khu cư dân này được dự trù với nhiều nhà biệt lập và hạn chế những dãy nhà liền căn, loại nhà chỉ được cho phép xây cất trong khu thương mại.
Về công trình kỹ thuật có đường xe lửa và nhà ga được bố trí gần lối vào của quốc lộ 20B, cạnh đó là khách sạn, kho hàng, khu tiều công nghệ và công xưởng. Kèm theo đó là các giải pháp về cấp nước, cấp điện, thoát nước, xử lý rác, nghĩa địa, lò sát sinh...
Lộ giới và khoảng cách bắt buộc từ ranh giới đất đến mặt tiền công trình (còn gọi là khoảng lùi) đã được quy định cho từng cấp hạng đường (bảng 2)
BẢNG 2

Loại trục đường
Lộ giới (m)

Khoảng lùi (m)
Trục chính nhà ga Cam Ly
20
5
Đường cấp I khu dân cư
18
5
Đường cấp I khu thương mại
18
0
Đường cấp II khu dân cư
13
4
Đường cấp II khu thương mại
13
0
Đường cấp III
8
4
Luật lệ xây dựng trong Đà Lạt được áp dụng chặt chẽ với các quy định về sử dụng đường và quy định về xây cất công trình ban hành ngày 26.7.1923 và ngày 1.6.1923.
Sau khi Đà Lạt có định hướng để phát triển, một số công trình xây dựng và giao thông quan trọng đã được thực hiện:
- Trong các năm 1932, 1938 đã hoàn tất các công trình giao thông quan trọng đường Đà Lạt- Sài Gòn, đường sắt răng cưa đi từ Phan Rang lên Đà Lạt và nhà ga xe lửa. Do các điều kiện vận tải phát triển nên các mặt hàng vật liệu xây dựng như xi măng, sắt thép... được vận chuyển dễ dàng đến Đà Lạt, không những đáp ứng được khối lượng xây dựng khổng lồ của thành phố mà còn đáp ứng được những đòi hỏi đa dạng về chất liệu của những công trình mỹ thuật cao.
- Các trục đường nội thị chính, khu trung tâm công cộng, khu thương mại người Việt, khu biệt thự người Âu, nhiều trường trung tiểu học nội trú quy mô lớn, doanh trại quân đội, nhà máy nhiệt điện (đường 3 tháng 2 ngày nay), nhà máy nước hồ Than Thở... đã được xây dựng.
Tuy nhiên đồ án E.Hébrard với ý đồ quá lớn không phù hợp với thực tế. Dự kiến Đà Lạt là thủ đô Đông Dương đã không trở thành hiện thực. Toàn quyền chỉ nghỉ mát mỗi năm một hay hai tháng trong một căn nhà tầm thường, không một cơ quan trung ương nào được dời về Đà Lạt. Do đó, những nguồn vốn to lớn để xây dựng chuỗi hồ, khu hành chánh trung ương đã không được đầu tư vào Đà Lạt.
Trong quá trình thực hiện đồ án, nhiều vấn đề thực tế đã phát sinh như sau:
- Hồ Xuân Hương đã thật sự trở thành trung tâm chính của Thành phố, cho nên việc phân lô biệt thự ở phía Bắc hồ sẽ đe dọa đến tầm nhìn viễn cảnh về phía núi Lang Biang,
- Khu phân lô dành cho người Âu cũng như khu vực dự kiến dành cho người Việt Nam không đáp ứng đủ nhu cầu. Từ thập niên 30 đã phát triển ngoài dự kiến của E.Hébrard những khu biệt thự Saint Benoit, Cité Decoux, Cité Bellevue... và ấp Việt Nam như: Hà Đông, Nghệ Tĩnh... có khuynh hướng phát triển về phía Bắc.
- Khu vực rừng cảnh quan phục vụ du lịch và các khu nhượng địa trong trung tâm chiếm một diện tích quá lớn làm trở ngại việc phát triển các trung tâm khác.
Do các vấn đề nêu trên, việc thực hiện đồ án E. Hébrard cần phải được hiệu chỉnh cho phù hợp với thực trạng.
Vào năm 1933, kiến trúc sư Pineau trình bày một nghiên cứu mới về thành phố Đà Lạt: Đà Lạt trước mắt chưa là thủ đô hành chánh hay nghỉ hè của Đông Dương, thành phố nên tự giới hạn lại như một trạm nghỉ mát để chờ đợi sự phát triển trong tương lai và đề ra những định hướng bảo vệ cảnh quan thành phố;
- Mở rộng hồ nước và các công viên.
- Khu vực xây dựng phải phù hợp với cảnh trí và điều kiện khí hậu của địa phương.
- Bảo vệ tầm nhìn toàn cảnh cao nguyên về phía rặng núi Lang Biang bằng cách thành lập một vùng bất kiến tạo ở phía Bắc Đà Lạt. Một số ý tưởng của Pineau đã được lưu ý và thực hiện sau này, đặc biệt là cảnh quan đã được giữ gìn với những khoáng địa rộng rãi, để chờ đón những dự án đầu tư lớn trong tương lai.
Vào năm 1940, kiến trúc sư H.Mondet trình bày một "tiền dự án chỉnh trang và phát triển Đà Lạt". Ông có nhận xét về Đà Lạt lúc đó như sau; "Đà Lạt kéo dài quá mức từ Tây sang Đông, về cơ cấu chưa thành một thể thống nhất". Nguyên nhân do việc xây dựng thường bám dọc theo các trục lộ lớn và do sự lo ngại quá mức khi người ta muốn bảo vệ cảnh quan bằng biện pháp mở rộng vùng cấm xây dựng rộng lớn ở trung tâm thành phố.
Đây cũng chính là bài toán khó nhất phải giải quyết trong các đề án quy hoạch tiếp theo của Đà Lạt: xây dựng và phát triển thành phố, nhưng vẫn bảo vệ được cảnh quan.
Do vậy, kiến trúc sư Mondet đã đề nghị một phương án không kéo dài thành phố nữa, mà tổ chức họp nhóm lại, mở rộng ra bằng cách ưu tiên sử dụng những lô đất gần trung tâm.
Công tác chỉnh trang được chia thành bốn phần:
- Về giao thông, đề nghị giữ nguyên hướng tuyến, chiều rộng đường nội thị chỉ cần mở rộng tầm nhìn các khúc quanh, bố trí lại một số nút giao thông chính và chuyển lối vào từ đèo Prenn đến Đà Lạt ở vị trí mà du khách khi đặt chân đến Đà Lạt sẽ được chiêm ngưỡng toàn cảnh thành phố.
- Về vệ sinh môi trường, đề nghị tập trung chỉnh trang hai bờ suối Cam ly, có biện pháp dẫn dòng hợp lý hơn khi nước thoát ra từ hồ và xây dựng thêm hồ nước tại vị trí thung lũng gần nhà ga.
- Các khu vực khoáng địa được tôn trọng và được tổ chức thành những công viên, câu lạc bộ, sân thể thao, vườn trẻ... sao cho vẫn bảo đảm được tính chất bất kiến tạo của các khu vực đất này.
- Các trung tâm công cộng, hành chánh được dự kiến bố trí và hợp nhóm lại.
- Trung tâm giải trí và thể thao gồm có: sân golf, hồ nước, sân tennis, câu lạc bộ, thủy tạ, vườn trẻ, khu casino, công viên... sẽ được bố trí tại bờ phiá Nam Hồ Lớn.
Qua bản tiền dự án, KTS. H. Mondet đã đóng góp được nhiều ý kiến phù hợp với thực tế và hữu ích trong công tác chỉnh trang thành phố Đà Lạt và đã được các nhà quy hoạch kế tục chọn lọc trong các đồ án sau này.
Kể từ năm 1939, Đà Lạt bắt đầu phát triển trở nên thịnh vượng.
Do chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, liên hệ với bên ngoài bị đình trệ, thời gian lưu trú ở Đông Dương của người Âu kéo dài đã khiến dòng người đổ xô về Đà Lạt ngày càng đông. Những số vốn không sử dụng ở Nam Bộ đã được đầu tư vào Đà Lạt. Thị trường mua bán đất thành phố trở nên sôi động, những biệt thự mọc lên ngày càng nhiều. Nhà máy thủy điện Ankroet trên sông Da Dung cùng nhiều trường học, tu viện, nhà thờ, và nhiều công trình công cộng khác... đã được triển khai xây dựng trong giai đoạn này.
Nếu trong năm 1939 có 59 giấy phép xây dựng được cấp thì đến năm 1942 đã lên đến 300 giấy phép và toàn thành phố đã có 728 biệt thự. Dân số cũng đồng thời gia tăng nhanh chóng lên đến 20.000 vào cuối năm 1942.
Mặc dù Đà Lạt đã là một thành phố xinh đẹp, hài hòa với những viễn cảnh rộng lớn và có nhiều khu vực được xây dựng hoàn hảo, thành phố trở nên chật hẹp do dự phát triển quá độ và vô trật tự, một vài khu vực dân cư được dựng lên một cách vội vã và tạm bợ.
Trước tình hình đáng báo động này, chính quyền Đông Dương quyết định phải thiết lập ngay một "đồ án chỉnh trang và phát triển Đà Lạt" Để điều chỉnh sự phát triển của thành phố theo một trật tự hợp lý và hài hoà. Những biện pháp bảo vệ cảnh quan và trật tự đô thị được áp dụng để chờ đợi ngày công bố đồ án chỉnh trang: bãi bỏ những nhượng địa trong vùng nội thành, giám sát các hầm đá, bổ sung các quy định về phân lô ở vùng vành đai và trong tỉnh Lang Biang, bãi bỏ khái niệm về vùng ngoại ô.
Công tác lập đồ án quy họach chỉnh trang được giao cho Nha quy hoạch đô thị và kiến trúc Đông Dương nghiên cứu thực hiện do KTS J.Lagisquet chủ trì nhóm nghiên cứu đồ án. Ngày 27.4.1943, đồ án chỉnh trang mới của Đà Lạt đã được Toàn quyền Decoux chấp thuận và ban hành áp dụng kèm theo một chương trình địa dịch (chương trình sử dụng đất).
Đồ án chỉnh trang và phát triển của Đà Lạt đã được nghiên cứu theo những định hướng tổng quát, từ đó ban hành các chương trình, quy chế cụ thể có tính pháp lý để thực hiện và để phát triển thành phố một cách hài hòa hợp lý từ tổng thể đến mỗi chi tiết.
Đồ án của J.Lagisquet ra đời cho đến nay vừa tròn 50 tuổi, nhưng trong một bối cảnh phát triển kinh tế có nhiều điểm tương đồng với ngày nay, việc nghiên cứu kỹ lưỡng đồ án này sẽ giúp chúng ta chọn lọc được những giải pháp bổ ích đóng góp cho những đồ án tương lai về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết mối liên hệ giữa đô thị và cảnh quan.
Cũng như H.Mondet, J. Lagisquet thấy rằng Đà Lạt có hình thể quá mảnh mai, khu gia cư lại không có bề sâu. Thành phố thiếu sức sống, không có trung tâm hấp dẫn thu hút dân chúng. Những khu vực thương mại, những trung tâm hành chánh thì phân tán và hầu như không đáp ứng được nhu cầu lúc đó.
Theo đồ án, Trung tâm thành phố được dự kiến tại bờ phía Nam hồ Xuân Hương và Đà Lạt sẽ được tổ chức thành một thể thống nhất, tập trung xung quanh 2 trục chính của thành phố và sự phát triển được dự trù dọc phía Nam suối Cam Ly, về hướng Tây và Tây bắc.
1) Trung tâm hành chánh được tập trung lại theo trục chính. Toàn bộ các cơ quan đầu não được bố trí quanh hồ Xuân Hương tạo nên một hạt nhân trung tâm: bờ phía Đông là Văn phòng Toàn quyền (khu nhà nghỉ Công đoàn ngày nay). Tòa thị sảnh ở bờ phía Bắc (nhà nghỉ Hương Trà), phía Nam là Dinh Toàn quyền (Dinh 2).
2) Trung tâm thương mại được phân tách thành hai khu vực: khu thương mại Việt Nam tại khu Hòa Bình và đường Nguyễn Chí Thanh, khu thương mại người Ấu trên đường Trần Phú (bưu điện ngày nay). Giữa hai khu vực này dự kiến sẽ xây dựng một chợ mới tại ấp Ánh Sáng.
3) Khu vực khách sạn giới hạn bởi đường Hồ Tùng Mậu và Trần Phú, có tầm nhìn trực tiếp và lý tưởng về phía hồ và dãy Lang Biang, gần đó là khu casino và câu lạc bộ (khu thao trường).
4) Một khu bệnh viện mới được dự trù ở Tây Nam thành phố để đảm đương nhiệm vụ mà bệnh viện cũ không còn đáp ứng đủ.
5) Các trường học được phân đều trong thành phố và những cơ sở chính được dự phòng đất đủ rộng để phát triển.
6) Trung tâm văn hoá được thiết lập ngay ở trung tâm thành phố bao gồm thư viện, trường Viễn Đông bác cổ và Nhà bảo tàng dân tộc học.
7) Khu dân cư được dự trù nới rộng:
- Diện tích xây dựng khu người Âu sẽ được mở rộng đến 540 ha, gồm khoảng 2.200 lô đất gần các trung tâm công cộng của thành phố.
- Vấn đề về khu cư dân Việt Nam đã được quan tâm giải quyết bằng nhiều phương án, những khu cư dân này cho đến lúc đó chỉ được bố trí ở những khu nhà tạm, khu phụ của thành phố. Những vùng đất mới sẽ được phân lô cho cư dân tùy theo tính chất nghề nghiệp của họ.
Trước tiên là một khu thương mại với những dãy nhà phố quây quần xung quanh chợ, tiếp đến là khu biệt thự song lập và nhà liên kế dành cho công chức và thợ thủ công là những người do việc làm vẫn được bố trí gần trung tâm thành phố.
Cuối cùng, một vùng đất rộng ở vành đai thành phố về phía Tây Bắc và Đông Nam đã được xác định cho những thôn ấp Việt Nam với dáng dấp nông thôn (hướng Bạch Đằng và hướng đi Trại Mát) mà ở đó sẽ quần tụ những người làm nông nghiệp hay nghề thủ công. Trong vùng này, cho phép mỗi cư dân có thể được phân một khoảng đất để trồng trọt, vừa nuôi sống gia đình vừa cung cấp rau, hoa, quả cho thành phố. Như thế, đặc tính của thành phố-vườn (Cité-jardin) cũng được thể hiện. Người dân có thể tùy ý xây cất theo dạng nhà của miền quê Việt Nam mà không hề ảnh hưởng đến cảnh quan kiến trúc của toàn thành phố. Đất đai được sung dụng cho dân lao động Việt Nam làm nông nghiệp có diện tích đủ tiếp nhận một số dân gấp 5 lần số đương thời tức 75.000 người.
8) Cảnh quan về phía dãy núi Lang Biang được bảo vệ bởi những khoảng trống rộng lớn hình rẽ quạt cốc từ hồ Xuân Hương hướng về phía bắc. Một phần đất trong những khoảng trống đó được dành cho các hoạt động công cộng hay du lịch ngoài trời mà không ảnh hưởng đến tính chất bất kiến tạo của khu vực bao gồm: công viên, sân golf, sân thể thao, sân cắm trại cho thanh thiếu niên, sân bay. Một công viên được dự trù tại vị trí của Đồi Cù I phía Bắc hồ Xuân Hương sẽ là giao điểm của các đường trục của Dinh II, Văn phòng Toàn quyền và nhà Thủy Tạ.
Xa hơn về phía Bắc là các khu rừng cảnh quan phục vụ du lịch với ranh giới đã được xác định lại, được chia thành 2 khu vực:
- Một khu vực rừng bảo tồn thực vật phía tây Bắc, tuyệt đối cấm khai thác để bảo vệ cảnh quan của dãy Lang Biang.
- Một khu vực lâm trường khác sẽ chấp nhận việc khai thác tỉa một cách đều đặn và hợp lý mà vẫn bảo vệ được cảnh quan.
Về chức năng của thành phố, đồ án đã làm rõ và nổi bật các đặc tính riêng của Đà Lạt là: Trung tâm hành chánh trung ương, Trạm nghỉ mát vùng cao, Thành phố nghỉ dưỡng, Thành phố trường học, Trung tâm được tuyển chọn dành cho thanh niên, Trung tâm văn hoá tinh thần. Đồ án đã căn bản đề ra được những biện pháp giải quyết những vấn đề quan trọng và bức xúc của đô thị Đà Lạt như: giải quyết sự mâu thuẫn giữa tính chất tập trung của đô thị và tính chất tản mạn của thành phố-vườn, bố cục các phân khu chức năng của thành phố mạch lạc và phù hợp với thực tế hơn, xác định được cụ thể phạm vi các khoảng trống và những khu vực bất kiến tạo để bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, có định hướng giải quyết nhà ở cho người di dân ngày càng đông hơn bằng nhiều thể loại nhà ở phù hợp với nghề nghiệp của họ.
Đồng thời với đồ án chỉnh trang, một kế hoạch thực hiện kéo dài 6 năm đã được Toàn quyền chấp nhận. Kể từ năm 1943, thành phố Đà Lạt nhờ có ngân sách trung ương hỗ trợ nên đồ án đã được triển khai thực hiện.
Kế hoạch áp dụng cho năm 1943 và 1944 đã được nghiên cứu bởi Tổng thanh tra Công chánh, bao gồm công tác xây dựng những đường lộ, các công trình công cộng và chuẩn bị mặt bằng để xây dựng các công trình tương lai theo họa đồ quy hoạch.
Dựa trên nền tảng đó, Đà Lạt được phát triển về mọi phương diện, đạt tới mức cực thịnh thời Pháp thuộc vào năm 1944.
Các cơ sở công cộng được xây cất như Lãnh địa Đức Bà, Nha địa dư, Cư xá công chánh, bưu điện, Chùa Linh Sơn, Linh Quang với nét kiến trúc Á Đông làm phong phú thêm kiến trúc cảnh quan Đà Lạt. Năm 1945, Đà Lạt đã có trên 1.000 biệt thự với nhiều kiểu dáng khác nhau. Nhà máy thủy điện Ankroët công suất 3.000kW bắt đầu hoạt động từ năm 1944.
- Đường sá cũng được cải tiến, Đà Lạt lúc đó có khoảng 94km đường và dự kiến sẽ đạt tới 140 km, đèo Prenn được mở theo tuyến mới. Việc lập ấp trồng rau được phát triển với các ấp Hà Đông (1938), Nghệ Tĩnh (1940), dân số tăng nhanh từ 13.500 người (1940) đến 25.500 người (1945).
Từ năm 1945-1954, tình hình chính trị bất an, giao thông bị trở ngại, dân số luôn bị xáo trộn bởi các cuộc tản cư. Năm 1949, Pháp tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, ngày 15.4.1950, Đà Lạt thuộc Hoàng Triều Cương Thổ và hạn chế sự nhập cư người Việt. Công việc xây dựng phát triển trong giai đoạn này theo đồ án của J. Lagisquet không có kết quả đáng kể ngoại trừ một số khu nhà ở và một số trường học.
2.3- Giai đoạn 1954-1975
Từ năm 1954 đến 1963, thời kỳ Ngô Đình Diệm làm tổng thống tại miền Nam, vấn đề xây dựng các công trình công cộng tại Đà Lạt được quan tâm đáng kể.
Đà Lạt là nơi nghỉ mát, một trung tâm giáo dục lý tưởng từ trung đến đại học, một nơi tổ chức huấn luyện quân sự, phát triển các trường tôn giáo và tu viện cũng như là nơi sản xuất rau hoa đặc sản cung cấp cho toàn vùng. Nhằm ổn định số người di dân mỗi ngày một gia tăng, một số ấp nông nghiệp mới được hình thành như ấp Tùng Lâm, Thánh Mẫu, Thái Phiên, Đa Thiện...
Trong khi chờ đợi soạn thảo đề án chỉnh trang mới cho Đà Lạt, đồ án J. Lagisquet và chương trình địa dịch năm 1943 dường như đã được tham khảo để giải quyết nhu cầu xây dựng. Công tác xây cất các cơ sở công cộng, tôn giáo, nghiên cứu khoa học, huấn luyện quân sự... được tính toán trên các phần đất công sản còn lại. Có thể kể đến một số công trình lớn đã được xây dựng trong giai đoạn này như sau: Chợ mới Đà Lạt (diện tích xây dựng : 5.400m2), khu Hoà Bình, Giáo hoàng học viện, Trường võ bị, Trung tâm nghiên cứu nguyên tử.
Để giải quyết nhu cầu nhà ở, Nha địa chính đề ra giải pháp cho phép người dân được khai thác tạm thời những lô đất đã được phân lô thuộc các thôn ấp. Đồng thời cơ quan Kiến ốc cục đã xây dựng nhiều căn nhà cho thuê hay trả góp.
Có thể nói, bộ mặt thành phố Đà Lạt đã được bổ sung bằng các công trình kiến trúc dáng dấp hiện đại, với đường nét thanh mảnh hơn và sử dụng đá rửa để trang bị mặt tiền nhà. Nhiều công trình đã góp phần tôn cao vẻ đẹp của thành phố nhưng cũng có những công trình xây cất vội vã không phù hợp với cảnh quan, nhưng đây là thời kỳ được ghi nhận có khối lượng xây dựng tương đối lớn kể từ khi thành phố do người Việt điều hành.
Việc xây cất từ thời kỳ này trở về sau, dù từng đồ án thiết kế công trình được xem xét phê duyệt, nhưng không được định hướng rõ trên một ý đồ quy hoạch tổng thể, nên đã có những công trình ảnh hưởng nghiêm trọng đến vẻ đẹp hài hoà với thiên nhiên cũng như sự phát triển cân đối của toàn thành phố.
Từ 1963 đến 1975, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội không ổn định, nhất là sau năm 1965 khi Mỹ trực tiếp đưa quân tham chiến tại Việt Nam. Việc tôn tạo cảnh quan đô thị và phát triển quy hoạch thành phố hầu như dừng lại, chỉ tập trung xây dựng các công trình quân sự hay phục vụ lợi ích trước mắt như:
- Các trung tâm huấn luyện quân đội, cảnh sát, trạm radar ở núi Bà, mở rộng sân bay Cam Ly...
- Nhiều khách sạn, nhà hàng mọc dày đặc chiếm những khoảng trống ở khu trung tâm.
- Làng cô nhi SOS, trung tâm trẻ em khuyết tật, trường Lasan, trường Don Bosco.
- Đắp đập, xây dựng các hồ: hồ Dankia, Đa Thiện 1, 2, 3.
- Dự án đầu tư khai thác trung tâm nghỉ mát hồ Suối Vàng và dự án cải tạo nguồn nước cho thành phố là những sáng kiến mới nhưng chưa được triển khai thực hiện.
Vào năm 1967, vấn đề môi trường sinh thái của Đà Lạt đã được các nhà chuyên môn báo động và đến năm 1973 đề án quy hoạch chỉnh trang Đà Lạt đang được thiết lập, trong đó nhấn mạnh về các biện pháp bảo vệ suối ở Đà Lạt, nhất là các lưu vực của hồ Xuân Hương.
Vấn đề xây cất bất hợp pháp và chiếm đất làm vườn đã lan tràn dưới nhiều hình thức làm tổn thương nghiêm trọng vẻ mỹ quan của thành phố. Có hai hình thức chủ yếu: do các giới chức có quyền thế chiếm đất trống dự trữ và do thương phế binh (quân đội Sài Gòn) hay người tản cư chiếm đất xây cất nhà ở ngay tại khu vực trung tâm, với những loại nhà bằng ván lợp tôn kiểu ổ chuột (xuất hiện nhiều sau Tết Mậu Thân 1968 và nhất là vào cuối năm 1971).
2.3 Giai đoạn từ 1975 đến nay
Từ sau giải phóng và đất nước được thống nhất, Đà Lạt trở thành tỉnh lỵ, của tỉnh Lâm Đồng, có ranh giới mở rộng đến 417 km2. Dân số năm 1975 là 85.833 người, đến nay đã lên đến trên 130.000.
Công tác xây dựng cải tạo thành phố đã được Đảng và chính quyền các cấp quan tâm ngay từ những ngày đầu. Năm 1977, Đoàn quy hoạch Bộ xây dựng đã trình bày "Sơ phác quy hoạch chung thành phố Đà Lạt", bao gồm nhiều tập thuyết minh và các sơ đồ kèm theo. Tiếp đó, từ năm 1983, cơ quan chuyên môn địa phương là ủy ban xây dựng cơ bản tỉnh được giao nhiệm vụ nghiên cứu quy hoạch chung thành phố Đà Lạt với một số vấn đề thực tế hơn.
Tháng 3.1985, Đoàn quy hoạch trung ương do KTS. Trần Ngọc Chính dẫn đầu đã đến Đà Lạt, phối hợp với các chuyên viên ủy ban xây dựng cơ bản để làm luận chứng kinh tế - kỹ thuật quy hoạch và cải tạo Đà Lạt.
Nhiều công trình có ý nghĩa phục vụ dân sinh đã được xây cất đáng kể như: nhà máy nước Suối Vàng, hồ Chiến Thắng, hồ Tuyền Lâm, Nghĩa trang liệt sĩ, hồ Thống Nhất, Nhà văn hóa thiếu nhi, cải tạo và nâng cấp Đồi cù, mở mang một số khu phân lô nhà ở (như tại đường 3/2...).
Còn lại là công tác cải tạo sửa chữa nhà ở, hay xây dựng xen cấy do nhân dân tự làm. (Số giấy phép xây dựng trong năm 1990 là 260, và năm 1992 là 379. Tốc độ gia tăng là 145% trong 2 năm).
Từ 1991 đến nay, Đoàn quy hoạch của Viện quy hoạch đô thị và nông thôn Bộ xây dựng do KTS. Vũ Kim Long chủ trì đang tiến hành thiết lập đồ án "Điều chỉnh quy hoạch tổng thể xây dựng thành phố Đà Lạt", theo tinh thần chỉ thị số 19/CT ngày 22.1.1991 của HĐBT về việc chấn chỉnh và đổi mới công tác quản lý đô thị.
Nói chung đồ án quy hoạch chung Đà Lạt đã được thiết lập nhiều lần, nhưng hiện nay vẫn chưa có đồ án nào đủ sức thuyết phục và được thông qua. Thành phố Đà Lạt đang phải gánh chịu những áp lực về khối lượng công trình xây dựng ngày càng tăng trong tình trạng không có đồ án quy hoạch chỉnh trang. Công tác giải quyết xây dựng công trình đương nhiên gói gọn trong phạm vi nghiên cứu đơn lẻ và rất chủ quan. Nhiều vấn đề thực tiễn có tính chất quyết định của thành phố càng lúc càng trở nên phức tạp.
- Hạ tầng kỹ thuật thành phố bị xuống cấp trầm trọng.
- Khu dân cư phát triển không giới hạn làm thu hẹp và đảo lộn bố cục vùng cảnh quan. Các cụm rừng thông ngay trong thành phố bị chặt phá rất nhiều để xây dựng nhà cửa, làm vườn trên các đồi quanh Dinh thị trưởng cũ, đồi xung quanh các khu Dinh I, II, III, đồi Cảnh sát dã chiến, đồi thông xung quanh các khu biệt thự Cité Decoux, Saint Benoit, đồi Tùng Nguyên... Các hồ nước tiếp tục bị bồi lắng nghiêm trọng hơn (hồ Xuân Hương, hồ Than Thở). Nhiều vùng đất trong khu vực bất kiến tạo, các khoảng trống bảo vệ tầm nhìn cảnh quan bị chiếm dụng xây cất bất hợp pháp.
- Bố cục thành phố thiếu cân đối do sự tập trung quá mức vào khu trung tâm mà chưa có biện pháp mở mang phát triển khu vành đai để thu hút dân cư và các nguồn vốn đầu tư.
Kiến trúc cảnh quan của TP. Đà Lạt là một bức tranh có sắp xếp theo một bố cục, không theo dạng hình học nhưng vẫn tuân theo những nguyên tắc về sư phối hợp giữa 4 yếu tố hình khối: địa hình tạo khối và bộ khung của cảnh, mặt nước tô điểm cho cảnh và tạo sự tĩnh mịch tác động đến nội tâm con người, cây xanh là màu nền của bức tranh và là bộ lọc không khí chống bụi bặm và tiếng ồn, kiến trúc là nét nhấn, nét chấm phá của phong cảnh và là tiện nghi sinh sống của con người.
Về địa hình, cần bảo vệ những điểm cao và các đường cong của các ngọn đồi là hình dạng căn bản của cao nguyên, tránh sự cải tạo khai phá đất (san ủi mặt bằng, khai thác hầm cát đá...), cần có quy định về một khoảng trống bất kiến tạo đủ rộng để bảo vệ tầm nhìn về phía dãy núi Lang Biang là tấm phông chính của mọi bức tranh phong cảnh của Đà Lạt. Ngoài ra cũng cần có chương trình cải tạo các vùng trũng ẩm thấp trong khu trung tâm thành những vùng đất hữu dụng (công viên, khu gia cư...).
Về mặt nước, việc duy trì và xây dựng thêm nhiều hồ nhân tạo sẽ càng tô điểm phong cảnh và tạo được nhiều hạt nhân trung tâm của khu chức năng (khu công cộng, dân cư, du lịch...), cần có biện pháp tuyệt đối bảo vệ lưu vực các suối chính chống sự ô nhiễm và bồi lắng: thành lập chương trình tái định cư đồng bào sinh sống dọc theo lưu vực suối Cam Ly, đồng thời với chương trình dài hạn nạo vét phục hồi các hồ đã tồn tại.
Về cây xanh, tuyệt đối không khai thác cây xanh và rừng Đà Lạt. Trong thành phố, thông là cây xanh đô thị, và ở khu ngoại vi, rừng thông phục vụ du lịch, ngoạn cảnh, săn bắn, cắm trại, bảo vệ lưu vực các sông Đồng Nai, Đa Nhim... Cần quy định ranh giới cụ thể của rừng bảo tồn với những quy định nghiêm ngặt không cho phép xây cất, trồng trọt, khai thác lâm sản và khoáng sản, làm nhà máy...
Về kiến trúc công trình, phải tái khẳng định tính chất thành phố công viên, thành phố - vườn.
Họa đồ quy hoạch, phân lô xây dựng TP. Đà Lạt phải xác định thật rõ ràng ranh giới các phân khu chức năng. Khu danh lam thắng cảnh, khu công sở, khu biệt điện, khu biệt thự các hạng A, B, C..., khu nhà biệt lập, nhà song lập, khu nhà phố, khu nhà có vườn, khu thương mại, khu chung cư, khu công cộng, công viên, khu thể thao, du lịch, khoảng trống bất kiến tạo...
Kích thước lô đất phải được phân chia phù hợp với từng loại công trình để có được không gian trống kèm theo, dành cho vườn hoa cây cảnh hay để tạo sự thoáng đãng cho tầm nhìn cảnh quan chung. Để cụ thể hóa không gian trống kèm theo, cần phải có những quy định có tính chất bắt buộc cho từng loại công trình về mật độ tối đa của công trình được phép xây dựng trong lô đất và khoảng cách tối thiểu tính từ ranh giới lô đất đến công trình.
Tuyệt đối không cho phép xen cấy lẫn lộn các dạng nhà khác nhau trong cùng một phân khu hay chia cắt đất đã được phân lô hợp lý để xây dựng thêm công trình.
Hiện nay và trong tương lai, vấn đề giải quyết nhà ở cho cư dân của thành phố là bài toán nan giải nhất, nhưng cần phải được ưu tiên giải quyết để tránh sự lan tràn tự phát gây nguy hại đến các vùng cảnh quan của thành phố. Để tăng quỹ nhà ở, chúng ta có thể đa dạng hóa các trung tâm dân cư, trên nguyên tắc tạo thành các quần thể công trình - công viên hay công trình-vườn biệt thự các loại, nhà biệt lập có sân vườn, nhà vườn, quần thể nhà ở cao tầng có công viên bao quanh...
Quan trọng nhất và hơn bao giờ hết là đồ án cải tạo, chỉnh trang và phát triển của Đà Lạt cần được nghiên cứu kỹ về mọi mặt, sớm được ban hành kèm theo một chương trình sử dụng đất và điều lệ quản lý được duyệt, có tính chất pháp lý để thực hiện. Có như vậy, thành phố Đà Lạt mới có điều kiện để được phát triển cân đối, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên vốn là di sản độc đáo cần được chăm sóc và tôn tạo.
Đất đô thị là một tài sản vô giá chỉ có mất đi mà không thể tự sinh ra được. Giá trị của đất đô thị Đà Lạt không giới hạn trong phạm vi các khu dân cư hay thương mại, mà có giá trị ngay cả tại những khu rừng thông hay khoảng đất trống còn hoang sơ không có người ở, nó mang lại cho chúng ta môi trường trong lành, cảnh quan xinh đẹp và những nguồn lợi tức lớn lao từ ngành du lịch. Ngoài ra, quỹ đất còn là nguồn vốn để giữ gìn và phát triển đô thị bằng giá trị cho thuê sử dụng đất, thông qua những chương trình hợp lý mà vẫn bảo đảm được sự hài hòa của kiến trúc cảnh quan của thành phố.
Trên đây là một số suy nghĩ ban đầu để phụ họa vào việc giữ gìn bức tranh phong cảnh và kiến trúc cảnh quan của Đà Lạt. Những nét trên không phải là những sáng kiến mới được khám phá, mà thực tế đã được nhà quy hoạch và quản lý đô thị đặc biệt là các kiến trúc sư người Pháp, và sau đó là người Việt, nghiên cứu công phu và thực hiện thành công tại Đà Lạt, tạo nên những di sản nổi tiếng trong và ngoài nước. Lẽ nào chúng ta không tìm cách chọn lọc và áp dụng những thành quả đó để giữ gìn, tôn tạo và phát triển thành phố chúng ta ngày thêm đẹp hơn?
KS. NGUYỄN VINH LUYỆN
KTS. TRẦN CÔNG HÒA
KTS. NGUYỄN PHÁP
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Đặng Thái Hoàng, Lịch sử nghệ thuật quy hoạch đô thị, Nxb Khoa học và kỹ thuật, H.,1992.
2- Hàn Tất Ngạn, Kiến trúc cảnh quan đô thị, Nxb Xây dựng H.,1991.
3- Nguyễn Khởi, Kiến trúc Việt Nam, các dòng tiêu biểu, 1992.
4- Tập san Sử Địa, 5., 1971, Số 23-24.
5- A.Berjoan et J. Lagisquet, Les réalisations d'urbanisme à Dalat, H., Indochine, 1943, No164-165.
6- Ernest Hébrard, Futur plan de Dalat, H., 1923.
7- Etienne Tardif, La mission du Lang Bian (1899-1990), Ogeret et Martin, Vienne, 1902.
8- J.Lagisquet, Rapport de présentation, 1942.
9- L.G. Pineau, Dalat, capitale administrative de l'Indochine?, Revue indochinoise juridique et économique, H., 1937, No 2.
10- Physionomie de Dalat en 1937, L'Asie nouvelle illustrée, S., 1937, No 56.

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

DALAT -Kien Truc

La station d'altitude de Dalat
" Aux uns elle donne la joie, aux autres, la santé"

DALAT -THÀNH PHỐ NGHỈ MÁT MIỀN NÚI



 

La station d'altitude de Dalat
" Aux uns elle donne la joie, aux autres, la santé"
Sur ce document de 1931,  on peut lire la devise de la ville "Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem", qui signifie " Aux uns elle donne la joie, aux autres, la santé"
 
  Les photos noir et blanc proviennent de la base Ulysse, du CAOM

 
Dalat, en 1955 ; Au fond, on distingue Ste Marie (Revue Indochine, 1955)
"C'est vers 1897 que la région du Lang-Bian fut visitée pour la 1ere fois par le Docteur Yersin et c'est à la suite de ce voyage que Paul Doumer décida la création d'un sanatorium pour Européens. Une mission spéciale, dite "mission du Lang Bian" fut confiée, en avril 1899, au Capitainre Guynet pour la construction de la route allant de la mer (Port de Ninh Chu, près de Phan-Rang) au Lang Bian. Le médecin de l'expédition, le Docteur Tardif, se prononça très nettement pour le choix de Dalat plutôt que de Dankia comme emplacement du futur sanatorium.
Malheureusement, pour des raisons diverses, la réalisation de ce projet ne fut pas poursuivie. Ce ne fut qu'en 1916 que le gouverneur Roume accorda les crédits nécessaires pour l'installation de la station d'altitude. "
  
"La construction consécutive de deux routes carrossables a permis le développement rapide de la station et, en particulier, la construction d'un grand hôtel confortable et d'un hôtel secondaire comprenant plusieurs pavillons logements et de nombreuses villas privées et administratives.
Ainsi Dalat représente déjà [en 1931] actuellement une petite ville, coquette et propre, ou le service de l'Hygiène est bien assuré.
Avec l'achèvement très prochain du chemin de fer à crémaillère - de Krongpha à Dalat même -  l'accès du plateau complètement réalisé par la voie ferrée sera mis à la portée de tous les indochinois et même des étrangers. En effet; Dalat, qui est déjà la plus grande station d'altitude et la plus confortable de l'Indochine, deviendra sans doute la plus  moderne et la plus agréable de tout l'Extrême Orient."
D'après la monographie éditée pour l'exposition coloniale de 1931, Les Station climatiques de l'Indochine.
Toutes les photos contemporaines datent de décembre 2007
Gare de chemin de fer
    
Le projet de voie ferrée est entériné par Paul Doumer dès 1898. Mais les contraintes budgétaires et la difficulté de l'ouvrage retardent considérablement les travaux. En 1926, le train n'arrive qu'à 40 km de Dalat....Le dernier tronçon est inauguré en 1932 et fonctionne à crémaillère. 
Reste le problème de l'emplacement de la gare qui est totalement excentrée du centre ville. Choisi par un administrateur sans concertation, elle restera au milieu d'un thalweg... Construit en 1938.
      
Au rez de chaussée de cette gare façon Deauville, salle d'attente séparée pour les indigènes et les européens, logement du chef de gare, guichet. Quelques chambres à l'étage pour les européens. 
Aujourd'hui, seuls quelques kilomètres sont en activités, pour le seul transport des touristes. Il reste une vieille loco japonaise de 1936. 45 tonnes, 700 cv. Rail de Longwy.
Le Lang Bian Palace
Durant la 1ere guerre mondiale, Dalat n'offre que quelques bungalows aux français que ne peuvent retourner en europe. Décision est prise de construire un hôtel d'une trentaine de chambre. Il sera achevé en 1922. Il sera modernisé en 1943 et, au dire de certains, perdra son charme. L'environnement ne demeure pas moins propice à la chasse, au golf, et à la restauration de qualité. Actuellement, l'hôtel possède 45 chambres. De vieux disques d'époque vous accueillent ...
 
  
Vue plongeante et dégagée sur le lac
     
L'hôtel a été complètement refait. Il est exploité aujourd'hui par le groupe Accor : Hôtel Dalat Palace
Moins huppé que le Lang Bian Palace, l'Hôtel du Parc offrait 70 chambres. Ici, l'arrière de l'hôtel. Coté décoration, de belles affiches des Messageries Maritimes.
 
Résidence de Bao Dai
Le Palais de Bao Dai a été construit entre 1933 et 1938 et servit de palais d'été au dernier empereur jusqu'à son exil en France en 1955. Ensuite, cette résidente accueillit les présidents sud vietnamien jusqu'en 1975, dont le Président Diem.
Construite non loin de l'institut Pasteur, elle est du à l'architecte Paul Veyserre et un architecte vietnamien. Elle reprend le style adopté pour la demeure du gouverneur général (voir ci après). Le balcon (voir photo de gauche) en "moon watching" fait penser au film de Jacques Tati "Mon oncle" ! 2600 mètres carrés pour 26 pièces.
      
Trophée de chasse et portrait de Bao Dai. Portrait de la reine, Nam Phuong   
  
Magnifique carte en verre du Vietnam offert par les étudiants vietnamien de Paris en 1952. Pièces du rez de chaussée, dont le bureau
       
Chambres du 1er étage, notamment pour loger les 5 enfants du couple. Luxe sans ostentation. Mobilier d'époque des années 40. 
          
Résidence du Gouverneur Général 
Construit par Paul Veysseyre, en 1937. Aujourd'hui, résidence pour le gouvernement. Photo interdite !
  
Le Golf de Dalat
Construit par et pour Bao Dai dans les années 20. A réouvert en 1994. Le lac est entouré d'une bande de terrain interdite à la construction.
     
L'institut Pasteur

  Architecte Charles Christian, 1935
Chargé dès 1931 des recherches bactériologiques et de fournir à la colonie les vaccins, notamment antivarioliques.  
L'église St Nicolas
Construite en 1932. Elle était autrefois entourée d'un cimetière européen. Vitraux fabriqués en France, à Grenoble, à la maison Balmet (1935 à 1949). Les noms des donateurs y figurent. 
           
La résidence de la famille de Nam Phuong, épouse de Bao Dai
Demeure de Nguyen Huu Thi Lan. Puis ce fut le musée des ethnies montagnardes et le musée actuel avant son déménagement dans un nouveau musée, à proximité. Le père de la reine était un riche propriétaire terrien dans la région de Go Cong. Elle sera Miss Beauté à plusieurs reprises avant d'épouser Bao Dai.
  
Cheminées et mobilier d'origine
   
Notre Dame du Lang Bian et le Couvent des Oiseaux
Filiale du couvent des oiseaux de Verneuil sur Seine, cette école est réservée aux jeunes filles de bonne société. Elle a vu passer les jeunes filles de bonne familles de la société vietnamienne avant de fermer brusquement ses portes à l'arrivée des communistes. 
Dans les années 40, Dalat brasse la jeunesse des deux mondes, européennes et vietnamiennes. La bourgeoisie se côtoie, tout en se confrontant lors des rencontres sportives du stade municipal.
  
      Le mur de la honte, version locale !
La chapelle, récemment refaite. Aujourd'hui, il ne reste plus que 4 sœurs dans les bâtiments conventuels. Les jardins sont loués pour la culture de la rose. Les autres bâtiments ont été réquisitionnés et servent d'école de professeurs pour les minorités ethniques. Les sœurs sont revenues en 1995, car elles ne pouvaient plus travailler sur place après 75. Création en 1935 à Dalat. Le terrain a été donné par le femme de Bao Dai, et ses filles ont fait leurs études ici. Des 12 hectares d'origine, il en reste 2. Du temps de sa splendeur, l'école accueillait 300 jeunes filles, externes ou internes. On y apprenait la couture, les travaux manuels... Les cours étaient dispensés en français jusqu'en 1970 puis en langue vietnamienne.
 

Les étudiantes d'un coté, les sœurs de l'autres.  
Le lycée Yersin
Après le petit lycée, s'ouvre le Grand Lycée Yersin en 1935, en présence de l'homme de talent. 600 enfants français et vietnamien peuvent y suivre les cours et y loger. 
              

Tuilerie de l'indochine. C'est du vrai !   
Un bâtiment superbe sera ajouté en 1940, tout en brique et en courbe. Il est dû à l'architecte Paul Moncet. Surmonté d'une "tour clocher" qu'on voit de loin...  
      
Non loin de l'entrée du lycée Yersin, cet imposant bâtiment a conservé sa vocation initiale : société de géographie

-----------------------

http://www.vanhoavu.com/VHV/DALAT.htm
Dalat, Thành Phố Nghỉ Mát Cao Nguyên

(Tài Liệu bằng Pháp Ngữ do Anh Lê Ngọc Trác gởi đến – VHV phỏng dịch)
La station d'altitude de Dalat
"Aux uns elle donne la joie, aux autres, la santé"
"Nó mang đến lạc thú cho người nầy, sức khỏe cho người khác"


Bài nầy được trích từ "Belle indochine".
http://belleindochine.free.fr/Dalat.htm



La station d'altitude de Dalat
" Aux uns elle donne la joie, aux autres, la santé"

Theo tài liệu nầy từ 1931, ngưòi ta có thể đọc được câu phương ngôn của thành phố là, “Nó mang đến lạc thú cho người nầy, sức khỏe cho người khác - Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem”
  

Les photos noir et blanc proviennent de la base Ulysse, du CAOM
Vào khoảng năm 1897, vùng cao nguyên Lâm Viên được Bác Sỹ Yersin đến viếng lần đầu; và sau đó thì Toàn Quyền Paul Doumer mới quyết định thành lập một viện an dưởng dành cho người Âu Châu. Vào tháng 4/1899 một sứ mệnh đặc biệt mệnh danh là “Sứ mệnh Lâm Viên” được giao phó cho Đại úy Guynet nhằm thành lập một con đường từ cửa biển Ninh Chử gần Phan Rang dẫn tới Lâm Viên. Bác Sỹ Tardif trong phái đoàn nêu rõ thích chọn Dalat thay vì Dakia làm nơi xây dựng viện an dưỡng trong tương lai.

Tiếc thay, vì nhiều lý do khác nhau, dự án trên không được thực hiện. Cho mãi đến năm 1916 Toàn Quyền Roume mới xuất ngân khoản cần thiết để thực hiện dự án.
  
Việc kiến thiết liên tiếp hai con đường xe chạy được đã gíup thành phố phát triển nhanh chóng và đặc biệt là việc xây dựng một khách sạn tiện nghi lớn và một khách sạn phụ gồm nhiều tòa nhà, phòng ngủ và nhiều biệt thự tư nhân và công thự.
Thế là vào năm 1930 Dalat đã thực sự là một thành phố nhỏ, duyên dáng và sạch sẽ, có dịch vụ y tế đảm bảo.

Khi tuyến đường sắt có trục răng cưa bám dốc từ Sông pha lên Dalat được hoàn tất thì tất cả mọi người trên Bán đảo Đông Dưong và ngoại quốc có thể đến cao nguyên toàn bộ bằng hoả xa. Thật vậy, vì đã là thành phố cao nguyên lớn nhất và tiện nghi nhất của Đông Dương, chắc chắn Dalat sẽ trở thành thành phố tân tiến nhất và thích thú nhất Viễn Đông.
 
Toutes les photos contemporaines datent de décembre 2007
Gare de chemin de fer
    
Dự án hoả xa được Toàn Quyền Paul Doumer phê chuẩn từ năn 1898; nhưng những khó khăn tài chánh và kỹ thuật làm chậm trể công trình rất nhiều. Năm 1926, tàu lửa chỉ đến được cách Dalat 40 cây số … Mãi đến năm 1932, chặn cuối cùng mới được khánh thành và chạy bằng trục bám dốc.
Vấn đề còn lại là thiết lập nhà ga hoàn toàn nằm ngoài trung tâm thành phố. Nếu chọn mà không tính toán kỷ lưỡng thì nhà ga sẽ nằm dưới đáy thung lũng… Cuối cùng nhà ga được thành lập năm 1938.

      
Dưới tầng trệt của nhà ga xây cất theo lối nhà ga ở những nơi nghỉ mát này là phòng chờ đợi riêng biệt một bên cho người bản xứ và một bên cho người Âu châu, phòng ngủ của trưởng ga, và quày vé. Một số phòng trên lầu dành cho người Âu châu.

Ngày nay, chỉ có một đoạn đường vài cây số còn hoạt động, duy nhất dùng vào việc chuyên chở du khách. Còn vỏn vẹn một đầu tàu Nhật bản chế tạo từ năm 1936, nặng 45 tấn, 700 mã lực. Đường rây (rail) là của Công ty luyện thép Longwy.
Khách Sạn Lang Bian Palace (Khách Sạn Lam Viên)

Trong Đệ Nhất Thế chiến, Dalat chỉ có một vài bungalows (nhà gỗ trệt) dành cho những người Pháp không thể trở về Âu châu được. Bấy giờ có quyết định xây một khách sạn 30 phòng, sẽ hoàn tất vào năm 1922, và sẽ được tân trang năm 1943, và, theo lời một số người nói, sẽ mất hết quyến rủ. Môi trường cũng không kém thích hợp cho săn bắn, chơi golf, và trùng tu chất lượng. Thực sự, khách sạn có 45 phòng, kết quả thực tế của bao nhiêu ước tính …
     
Vue plongeante et dégagée sur le lac
     
Khách sạn được hoàn toàn trùng tu lại và ngày nay được Tập đoàn Accor khai thác : Hôtel Dalat Palace

Kém sang trọng hơn Khách sạn Lâm Viên, Khách sạn Công Viên (Hotel du Parc) có 70 phòng, có trang trí bên hông và những biển hiệu của các công ty vận tải đường biển.
    
Résidence de Bao Dai
Dinh Bảo Đại được xây giửa năm 1933 và 1938 và đã được dùng làm nơi nghỉ mát cho vị Hoàng Đế cuối cùng này cho đến khi lưu vong tại Pháp vào năm 1955. Sau đó dinh nầy dành cho các vị Tổng thống của miền nam Việt Nam cho đến năm 1975, trong đó có Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Cách Viện Pasteur không xa, Dinh được thiết kế bỡi kiến trúc sư Paul Veysseyre và một kiến trúc sư ngươi Việt Nam. Dinh lập lại biểu mẫu dành cho cơ dinh của Toàn Quyền Pháp. Ban công “ngắm trăng” gợi nhớ đến bộ phim “Mon Oncle” của Jacques Tati. Rộng 2600 mét vuông cho 26 phòng.
      
Trophée de chasse et portrait de Bao Dai. Portrait de la reine, Nam Phuong   
  
Bản đồ Viêt Nam bằng thủy tinh do các sinh viên Việt nam ở Paris tặng năm 1952. Các phòng ở tầng trệt, gồm cả phòng làm việc.
       
Các phòng ở tầng trệt, gồm cả phòng làm việc.
          
Résidence du Gouverneur Général Dinh Toàn Quyền
Construit par Paul Veysseyre, en 1937. Aujourd'hui, résidence pour le gouvernement. Photo interdite !
Xây cất bỡi Paul Veysseyre vào năm 1937. Ngày nay là công thự của chính phủ. Cấm không được chụp hình!

  
Le Golf de Dalat - Sân cù Dalat

Xây dựng bởi và cho Cựu Hoàng trong những năm 1920. Mở cửa lại vào năm 1994. Hồ được vây quanh bằng một dãi  đất cấm không đuợc xây cất.
     
L'institut Pasteur-Viện Pasteur


 

Architecte Charles Christian, 1935
Kiến trúc sư Charles Christian.
 Từ năm 1931 đặc trách nghiên cứu về vi khuẩn học và cung ứng thuốc chủng ngừa cho thuộc địa, nhất là thuốc chủng đậu mùa.


L'église St Nicolas


Kiến thiết năm 1932. Trước kia chung quanh nhà thờ nầy là một nghĩa địa dành cho người Âu châu. Các cửa kính được sản xuất tại Grenoble, Pháp, tại nhà Balmet (1935 - 1949). Tên những người tặng có ghi lên trên.
           
La résidence de la famille de Nam Phuong, épouse de Bao Dai
Tư thất gia đình Hoàng Hậu Nam Phương
Tư thất của Bà Nguyễn Hữu Thi Lan. Sau nầy là bảo tàng viện các sắc tộc thiểu số. Cha của Hoàng hậu là một điền chủ giàu trong vùng Gò Công. Hoàng hậu nhiều lần đoạt chức hoa hậu trước khi làm vợ Cựu Hoàng Bảo Đại.
  
Cheminées et mobilier d'origine-

 
   

Notre Dame du Lang Bian et le Couvent des Oiseaux
Tu Viện Couvent des Oiseaux
Là một chi nhánh của Couvent des oiseaux của Verneuil sông Seine, trường nầy dành cho những nữ sinh gia đình giàu có. Trường đã đào tạo những nữ sinh gia đình tốt trong xã hội Việt Nam trước khi bị đóng cửa vào năm 1975.

Trong những năm thập niên 40, Dalat tiếp nhận giới trẻ từ hai thế giới, Âu châu và Việt Nam. Giai cấp trưởng giả sát cánh với nhau nhưng vẫn đối đầu nhau trong những cuộc tranh tài tại sân vận động thành phố.

Ngày nay, chĩ còn 4 nữ tu trong các toà nhà tu. Vườn tược được cho mướn để trồng hoa hồng. Các tòa nhà khác thì bị trưng dụng và dùng làm Trường sư phạm dành cho các sắc tộc thiểu số. Các nữ tu đã từ nghiệp vào năm 1995, vì họ không có thể làm việc tại chỗ được nữa từ sau 1975. Tu viện được thành lập vào năm 1935 tại Dalat. Khu dất do Hoàng Hậu Nam Phưong cho, và các con gái của bà đã theo học tại đây. Từ 12 mẫu tây, nay chĩ còn 2 mẫu. Từ thời hoàng kim, trường đã đón nhận 300 nữ sinh, nội và ngoại trú. Người ta học may vá và thủ công ờ đây... Chương trình giảng huấn được dạy bằng tiếng Pháp cho đến năm 1970, và sau đó bằng tiếng Việt.
  
     
Le mur de la honte, version locale !

 
Les étudiantes d'un coté, les sœurs de l'autres.  
Le couvent du Domaine de Marie-Tu viện Domaine de Marie 

Trơ trọi trên một ngọn đồi vế phía tây bắc, tu viện được thành lập từ những năm cuối thập niên 1920 (khi các nữ tu Dòng chúa Cứu thế đên Việt Nam vào năm 1928). Bấy giờ đó chĩ là một tu viện dành cho những người mới đi tu. 23 nữ tu Dòng Saint Vincent de Paul sống ở đây cùng nhiều thiếu nữ và trẻ em bị điếc. Viện chăm sóc 300 trẻ em. Một môi trường tuyệt vời truyền bá tiếng Pháp. Ngày nay chĩ còn 3 mẫu tây dành cho các nữ tu. Trước kia họ có 22 mẫu, kể cả một viện mồ côi và mộ trường nội trú.          
     















Bà Decoux, nhủ danh là Suzanne Humbert, vợ của Đô Đốc Jean Decoux, Toàn Quyền Đông Dương từ năm 1940 đến 1945 được chôn tại đây. Là một ân nhân lớn của tu viện, bà đã tữ nạn xe hơi ngày 6 tháng Giêng năm 1944 khi lên thăm vợ chồng Cựu Hoàng Bảo Đại.


La chapelle

Lycee Yersin Đằng sau ngôi trường nhỏ là ngôi trường lớn Grand Lycée Yersin thành lập năm 1935, với sự chứng kiến của Bác Sỹ tài ba Alexandre Yersin. 600 học sinh Pháp và Việt theo học và nội trú tại đây.

 


              

Tuilerie de l'indochine. C'est du vrai !   

Một tòa nhà ngạo nghể được xây thêm năm 1940, tòan bằng gạch và đường cong. Kiến trúc sư là Paul Moncet. Với tháp chuông cao có thể nhìn thấy từ xa...

      
Non loin de l'entrée du lycée Yersin, cet imposant bâtiment a conservé sa vocation initiale : société de géographie

http://trchoa-archiblog.blogspot.com/2010_12_01_archive.html
----------------------------
Les villas coloniales
Les 1er chalets furent en bois. Très rapidement, ceux ci sont prohibés dans le centre et des surfaces minimales sont imposées de façon à ce que les édifices n'aient pas l'air perdu au milieu d'immenses terrains. Le style architectural n'est pas imposé. De fait, on voir fleurir des pavillons du pays Basque, de Savoie...
L'emplacement indiqué des villas n'est pas garanti ...
Commentaire sur le style architectural des villas, d'après Alain Y Léger : "Une partie des villas que l'on retrouve à Dalat sont dites à pignon cassé. On désigne ainsi les façades couvertes par des toits à deux pans dont l'angle supérieur est rabattu ou cassé. Lorsque cette cassure est fermée à la base, généralement par des planches, on dira plutôt « à croupes », ou à demi-croupes si l'on veut distinguer les petites cassures (comme ici) des volumineuses.
Les avants-toits sont soutenus soit par des poutres horizontales (corbeaux), soit, lorsqu'ils sont plus importants, par des poutrelles
obliques prenant appui sur la façade, dites aisseliers.
À ma connaissance, l'origine de ce style est germanique (forteresse de Königstein, 1589) — encore que les tableaux de Breugel l'ancien témoignent qu'on en trouve dès le milieu du XVIe siècle en Belgique — mais il s'est répandu dans toute l'Europe, à l'est comme à l'ouest. Chez nous, il était surtout fréquent en Alsace-
Lorraine et dans les zones de montagne. Après 1870-1871, certains Alsaciens-Lorrains l'ont reproduit dans la France de l'intérieur.
Mais il s'est aussi imposé en Grande-Bretagne et nous est revenu au XXe siècle par les côtes normandes. Voire par certains artisans qui avaient été prisonniers en Allemagne. Entre-les-deux guerres, s'est imposée une architecture synchrétique, mélangeant divers styles régionaux : toit landais asymétriques, éléments basques, faux colombages, pignons cassés, croupes, etc. Ces modèles ont été popularisés par des revues d'architecture mais aussi par copiage, retours chez eux de provinciaux ayant vécu à Paris, vacanciers impressionnés par les villas côtières, etc. Certaines entreprises proposaient, déjà, des modèles sur catalogues.
Notez que certaines de ces villas possèdent des bow windows (oriel en français) sur 1 voire 2 étages, ce qui semble dénoter une influence britannique. Mais les bow-windows étaient auparavant posés majoritairement au sol et c'est essentiellement à l'âge du béton qu'on s'est permis de les faire naître en hauteur. "

"A Dalat, il y a peu de créations originales. Toutefois, il y a deux exemplaires qui méritent une attention particulière.
Le premier (ci-dessous) est fort curieux car c'est une forme primitive du cottage à pignon cassé dont on trouve l'exemplaire original à Saint-Georges-de-Didonne, près de Royan (Chte-Maritime). L'architecte en était très fier et le plan a été publié
par une revue. Je dis primitive car c'est une forme qui fait perdre beaucoup d'espace et qu'on a dépassé par la suite, en allongeant une
des deux ailes, en multipliant les chiens assis sur la partie longue et en unifiant le tout par de faux colombages. De même, vous pouvez
constater qu'il y a un balcon rudimentaire en bois au-dessus d'une entrée en avancée alors que, par la suite, on a tout simplement
construit des bows windows avec toit terrasse."


"La seconde (ci-dessous), pour modeste qu'elle soit, est également intéressante car elle arbore une combinaison que je n'avais encore jamais remarquée entre sa rive à festons (en zinc ?) et un bandeau de même motif courant sur la façade au niveau du 1er étage."

Vers la rue Pasteur 
Carte contemporaine de Dalat
Centre ville
         
            

  Non loin de l'église saint Nicolas, bel exemple de restauration réussie
Emplacement à préciser... 
   
Route du Sinh
Sur la route, une villa "La Biche au Bois". Son locataire, fonctionnaire forestier, découvre avec surprise le sens de cette phrase. Il est très heureux de vivre dans cette maison, qu'il partage avec 3 autres familles.    
Tran Phu

L'ancienne Poste ; aujourd'hui le bar restaurant branché "Larry's Bar" du Dalat Palace, rue Tran Phu. Repas à 48 USD sans les boissons en 2007...
Duong Yersin,       

Très belle maison, sur une colline au milieu des pins. Hôtel privé appartenant à un syndicat
Hai Thuong 
En face de l'hopital Hai Thuong, école maternelle (à l'entrée des districts 5 et 6). C'était autrefois la régie de la douane

  
Rue du 3 février 3 Thang 2

Avenue large, riche en nombreuses maisons spacieuses 
Secteur 4
   

Très belle maison "normande" cachée par les arbres 
Rue YAGOUT et Tran Binh Trong (district 5)
Bel ensemble de villas homogènes. Sans être les plus belles de Dalat, elles sont nombreuses dans ce quartier. 
     
  

Église des minorités ethniques, non loin des chutes de Cam ly, près du centre de passage du permis de conduire (au bout de Tran Binh Trong)
Dans le secteur 5
 
Rue Phan Dinh Phung

Maison dont la facade est en bois ; c'est la seule maison de ce type rencontré à Dalat
Eglise rue Nguyen Van Troi

Jolie panorama du haut de cette colline, en centre ville
Secteur Quang Trung - Phan Chu Trinh - Secteur 9
       A proximité de l'intersection Tran Quy Cap
 
  
      

Au détour d'une rue dans le secteur 9
Secteur Rue Pasteur
Nombreuses maisons dans les rues du district 4 (Huynh Thuc Khang, Nguyen Viet Xuan...

 


 

Sœurs de Saint Paul de Chartres (emplacement à confirmer)
Secteur Tran Hung Dao
Les maisons dans les cadres de verdure les plus vastes. Certaines maisons sont actuellement en rénovations.
   
A 75 ans d'écarts, le garage Saga et ce qu'il en reste (la facade)
    
Hung Vuong


Quartier 10
Bâtiments occupés autrefois par la communauté religieuse des Sœurs Franciscaines.
Actuellement, l'école est gérée par le gouvernement, tandis que les bâtiments conventuels sont abandonnés et squattés. La zone est très excentrée et particulièrement humide. Située à proximité d'une ancienne résidence de Bao Dai, le Dinh 1.
   
Extérieur de Dalat









Sur la route du Lang Bian












Paysage vu du Lang Bian
Histoire de la Ville de Dalat -Revue Indochine - Sud Est Asiatique - 1954
"La reconnaissance du docteur Yersin commença lorsque, le 21 juin 1893, venant de Nha Trang, le docteur Yersin déboucha de la forêt sur les vastes étendues du plateau et fut frappé par la beauté des sites et la douceur du climat. Sans doute pressentait-il alors l'avenir et le destin de cette région, car il se mit aussitôt à en étudier les conditions climatériques et à tracer les grandes lignes d'un vaste projet d'assainissement et d'action antipaludéenne. 
Quatre ans plus tard, en  juillet 1897, le président Doumer, alors gouverneur général de l'Indochine, avait l'intention d'établir dans la région montagneuse du sud du centre Vietnam un sanatorium comparable à ceux de l'Inde. En réponse à une lettre personnelle de M Doumer, le docteur Yersin lui indiqua le plateau de Lang Bian comme répondant le mieux à ses désirs. 
Le gouverneur général adopta les conclusions du docteur Yersin et commença à réaliser son projet. Successivement, deux missions, celle de Thouard et de Cunhac en 1897 et celle de Guynet et Cunhac en 1898, s'efforcèrent de déterminer et préciser les voies d'accès. De nombreuses autres missions complétèrent ces reconnaissances de la première heure. En 1898, une station météorologique et d'essais agricoles fut crée à Dankia, suivie bientôt d'un poste de la garde indochinoise. En mars 1899, M. Doumer vint lui-même reconnaître l'emplacement du futur Dalat. Accompagné du docteur Yersin, il parvint au plateau du Lang Bian par Phan Rang, Krongpha, Belle vue, Dran et l'Arbre Broyé. "

Le marché de Dalat, 1955, Revue Indochine, Sud Est Asiatique

"Quatre chalets en bois furent alors édifiés : ceux du gouverneur général, de la résidence et de la garde indochinoise. Un maire fut désigné. Une sala (le futur Hôtel du Lac) fut installée en 1907. Les grandes lignes de la ville furent tracées. Elles suivaient les pistes montagnardes établies sur les lignes de crêtes. 
Mais en 1902, après le départ de M Doumer, tous ces projets furent pratiquement abandonnés. Les crédits furent supprimés,  les constructions arrêtées. Seuls demeuraient encore sur place quelques agents, un maire, un  inspecteur de la garde indochinoise et un chef de la station agricole. Les difficultés d'accès apparurent insurmontables aux continuateurs de M. Doumer. 
La deuxième phase, qu'on pourrait appeler "l'éveil de Dalat", s'ouvrit en novembre 1915. Les circonstances étant devenues plus favorables, le gouverneur général Roume décida de donner  une nouvelle impulsion à l'œuvre abandonnée. Le réseau routier, considérablement développé, facilitait l'accès au Lang Bian. La Première Guerre mondiale empêchant les séjours en France, incitait les Européens d'Indochine à venir se reposer dans une région au climat salubre et vivifiant. 
Afin de favoriser le tourisme naissant, M. Roume décida, en 1916, d'installer  un grand hôtel à Dalat. Ses successeurs continuèrent le travail entamé, accordèrent des crédits et développèrent les routes. Le nombre de chalets augmenta très rapidement. A la fin de la guerre 14-18, on en comptait une dizaine. On commença en 1919 à aménager le lac. A partir de 1920, la route de Phan Rang à Dalat, passant par le col de Belle Vue et par Dran, devint praticable. La Poste actuelle, l'institution Nazareth, l'immeuble actuel du Trésor furent alors édifiés. Le Lang Bian Palace fut inauguré en 1922. Une première usine électrique fut installée en 1918 et l'usine des eaux en 1920. 
L'architecte Hébrard, à qui le gouverneur général Long avait confié la charge de dresser un plan d'aménagement de Dalat, termina le travail en 1923. Ce fut le début de la troisième phase, qui fit de Dalat une station d'altitude. 
Jusqu'en 1940, Dalat se développa progressivement. En 1933, une route directe reliant Saigon à Dalat, par le col de Blao, fut ouverte à la circulation ; les travaux du chemin de fer à crémaillère, commencés en 1920, furent achevés et le rail atteignit Dalat en 1933. La construction du Lycée Yersin, décidée en 1927, se poursuivra jusqu'en 1941. L'institution Notre Dame du Lang Bian et celle du Sacré Cœur furent édifiées, la première entre 1934 et 1936, la seconde en 1940. 
Au nord-ouest et au sud de la ville, la population vietnamienne, qui n'avait pas cessé d'augmenter, forma ses quartiers et passa de 1.500 habitants en 1932 à 13.000 en 1940. Cependant, l'équipement urbain de la cité se poursuivit par la création d'une nouvelle usine électrique en 1927 et le développement du service des eaux. Un plan d'extension fut établi en 1937. 
La quatrième phase, enfin, aboutit à l'organisation de la cité. Depuis 1940, Dalat connaît une grande prospérité. Une usine hydroélectrique est en construction  à Ankroet, sur le Dadung, pour parfaire l'alimentation en électricité de la ville qui s'agrandit de plus en plus. Le nombre de villas, qui était de 530 en 1940, s'éleva jusqu'à 1.000 à la fin de 1945. Parallèlement, la population s'accrut et dépassa 20.000 habitants à la fin de 1942
Mais la situation internationale ne permet pas la réalisation du plan d'urbanisme rendu exécutoire par l'arrêté du 27 avril 1943 et Dalat, comme tout le reste du Vietnam, eut à souffrir des tristes événements de 1946. 
Cependant, depuis le transfert des compétences et services au gouvernement du Vietnam, les autorités vietnamiennes prennent à cœur de poursuivre l'œuvre interrompue et s'efforcent de réaliser une cité modèle. Un nouveau plan d'urbanisme est à l'étude, visant à faire de Dalat une station d'altitude de premier ordre, tout en assurant son développement économique et social. 
A la fin de 1952, Dalat compte 25.041 âmes, dont 23.072 Vietnamiens et autochtones appartenant à la tribus des Lat, 1.217 Européens (non compris les militaires) et 752 Chinois. "

Sommaire
http://belleindochine.free.fr/Dalat.htm

VNAF PHOTOS section –vnafmamn.com
Back to "DALAT, LOST SHANGRILA"
DALAT: RELICS OF GOLDEN AGE
Dalat Guide

In 1897, Dr. Yersin discovered the Lang-Bian plateau and after Governor Paul Doumer paid the first visit, the Governor decided to create a sanitarium for all europeans. Then in April, 1899, a special mission called "Mission du Lang-Bian had been assigned to Captain Guynet for building a route from Lang-Bian to coastal area (port of Ninh Chu, near Phan Rang). However, the physician of the expedition, Dr. Tardif choose Dalat rather than Dankia (an area near Dalat, today known as Suoi Vang) as the developmen project for future sanitarium.

Unfortunately, for many different reasons, the project had been canceled. Until 1916 Governor Roume accepted a necessary fund for the development of the high land resort. The construction of the route for automobile was also an advantage that speeded up the project, especially the complete building of the "Grand Hotel" and a second one with more lodges and later private and official Villas. Thus, in 1931 Dalat has been established as a small village, nice and clean where the healthy life had been assured. More over, to get the better and convenient access to Lang-Bian plateau for everyone, The French colonial administration also started a parallel project (from 1903 till 132) of building a cog railway Tourcham - Dalat, which consisted of 84 km with 5 tunnels and 3 cog rack sections (chemin de fer a cremaillere). Winding through beautiful pine forest, green hills and spectacular passes, the rail way afterward became one of the two magnificent cog railways with Abt system in the world and as a heritage of the French Indochina era.

After April 1975, most affluent people of Dalat had gone, then the common Lang-Bian natives also fled when the Red scare became a real nightmare and life turned out to be so tough at an isolated resort, which once was a dream land. With the massive influx of new "pioneers" from the North, Dalat has changed its image and cultural ambience forever since private estates were confiscated; public lands seized at will and the pristine pine forest chopped down for whatever project or personal gain.

Today, foreign visitors can visit the salubrious weather resort and contemplate at some historic buildings, which due to official landmark have been recently restored and maintained; but if strolling deep into the old streets of the city, they will encounter the old ghosts of the forgotten past: The old villas neglected with lost time. And if you are interested in Architecture and have keen eyes, even in shabby and dilapidated condition those "Relics" still look elegant with the French colonial traits and they reminisce so much about the nostalgia of the golden era of Dalat that the old "Dalataires" now called "The Lost Shangrila."

(Most photos and part of the text translated from BelleIndochine)
OLD VILLAS OF DALAT
Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa
Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa

Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa
Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa
Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa
Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa

Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa
Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa
Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa
Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa

When arriving in Dalat, most tourists would stay in 5 or 4 star hotels, dinned at classy restaurants, and visited the scenic landmarks where they could take a lot of beautiful pictures. With tight traveling schedules, many didn't have enough time to cover all points of interest, much less venturing into the heart of Dalat city. In case you may have missed, here are a few images of Dalat that exposed the real lives of local people.
DALAT'S REAL LIFE IMAGES
Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa

DALAT LANDMARK & BUILDINGS: THEN & NOW
Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa
Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa
Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa
Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa
Dalat VillaDalat VillaDalat VillaDalat Villa
Dalat VillaDalat VillaWaterfallWaterfall
WaterfallWaterfallWaterfallWaterfall

Dalat VillaDalat VillaDalat Villa
Dalat VillaDalat VillaDalat Villa

More Courtney Utt's photos can be seen at this link: Dalat Then & Now Photos
Back to "DALAT, LOST SHANGRILA"
http://www.delcampe.net/list.php?language=E&x=0&y=0&searchString=dalat+&searchMode=all&searchTldCountry=net&cat=0&searchInDescription=N
----------------------------------------------------


Le Domaine de Marie, à Dalat

Le livre "Récits et lettres d'Indochine et du Vietnam 1927-1957, de Jean Le Pichon, paru aux éditions "les Indes Savantes" en 2009 offre un éclairage intéressant sur la naissance du "Domaine de Marie" de Dalat. Cette congrégation, qui fait partie de l'ordre des Filles de la Charité - Saint Vincent de Paul (http://www.filles-de-la-charite.org/fr/) est bien connue des touristes se rendant à Dalat, car c'est un lieu très accueillant. C'est également un formidable relais de la francophonie.  

Photo prise en 1948 (source caom)
Actuellement, le Domaine de Marie accueille un noviciat. 23 sœurs Saint Vincent de Paul y vivent (en 2007) ainsi que de nombreuses jeunes filles et enfants malentendants. Le financement de la structure est assuré notamment par une maternelle riche de 300 enfants. 
Des 22 hectares possédés en propre à l'origine, seuls 3 hectares sont encore aux sœurs aujourd'hui.    
Les photos contemporaines datent de 2007.        
Extrait du livre de Jean Le Pichon :
 "Elles étaient déjà en Indochine depuis de longues années, mais dispersées, surtout en Cochinchine, en de petites implantations provinciales nées des circonstances. Partout, les sœurs françaises  avaient été frappées des vocations religieuses qu'elles rencontraient parmi les filles vietnamiennes, si bien qu'en 1940, l'ordre se décida de répondre à cet appel. C'est ainsi que fut envoyé en Indochine une Visitatrice, sœur Durand, avec pleins pouvoirs, assistée de sœur Sirjacq qui devait être la future maîtresse des novices. C'est en août 1941, je crois, que le résident Patau me demanda de les piloter dans Dalat afin de rechercher les terrains qui pourraient convenir à leurs projets. Je les embarquai dans ma petite voiture à cheval, et  nous fîmes le tour de la ville. Rien de ce que je proposai ne convenait. Enfin, à la sortie du quartier annamite, une grande colline dénudée dominait le paysage avec, à ses pieds, une petite vallée couverte de pins. Le sœur Durand s'écria: "ça y est, c'est là !".
Dalat, en 1955 ; Au fond, on distingue le Domaine de Marie (Revue Indochine, 1955)
"Nous arpentâmes le terrain qui devait faire une quinzaine d'hectares. On planta l'église au sommet avec le cloître et le noviciat; la  maison d'éducation des métisses aurait sa place dans la vallée; le dispensaire et une école populaire au débouché de la ville; à mi hauteur, l'école d'infirmières. L'ensemble constituerait le "Domaine de Marie". Elle me demanda, en tant que notaire, d'établir l'acte d'acquisition au plus tôt et à moindre frais; ce qui fut possible, les terrains appartenant au domaine de  l'état. [...]
"A la fin du mois d'octobre 1941, les 30 premières novices arrivaient, venant des maisons de cochinchine. A la fin de novembre 1942, à l'inauguration de l'église, elles étaient 60 ! Entre temps, elles avaient reçu un aumônier, un père lazariste qui venait de passer 15 ans en Ethiopie : le père Bringer. [..] C'est avec lui et sœur Sirjacq qu'elle forma les premières générations de sœurs vietnamiennes qui, livrées à elles-mêmes, plus tard à l'heure de la persécution vietminh, ont témoigné avec tant de foi, d'intelligence et de courage, d'une remarquable adaptation aux circonstances et, en définitive, d'une vocation missionnaire qui s'est révélée sur le terrain."
Sœur Durand, religieuse hors du commun
"Une des raisons de l'extraordinaire réussite de sœur Durand était son ouverture aux problèmes du monde où elle voulait s'implanter. Son objectif : former des sœurs de la Charité vietnamiennes qui soient capables d'être dans leur propre milieu, au service des pauvres, présentes à toutes les formes de pauvreté rencontrées. A l'école de Saint Vincent, elles doivent être sans cesse à l'écoute des pauvres qu'elles trouveront sur leur chemin. [..]
Ainsi, ayant eu conscience des problèmes des enfants métis abandonnés à travers l'Indochine, elle envisagea de créer une maison d'éducation à Dalat qui les accueillerait et les assurerait une formation adaptée jusqu'à ce que les circonstances permissent de les envoyer en France où ils seraient confiés soit à des familles (adoptions ou parrainages), soit dispersés dans des pensionnats religieux qualifiés (Ursulines, Oiseaux, etc..).
"Ce projet reçu tout de suite l'appui de William Bazet, un métis devenu l'un des plus riches planteurs de Cochinchine et homme politique très influent dans le Conseil de l'Indochine. Il se chargea de la présentation des dossiers auprès des services administratifs compétents mais, sans plus attendre, elle entreprit les travaux. Cette audace reposait, certes, sur une grande confiance dans la Providence, mais précédée d'une rigoureuse analyse des besoins et de l'urgence, et de sa conviction que la meilleure solution est celle qu'elle apporte. Son initiative était alors le signe qui alertait et déclenchait toutes les bonnes volontés préoccupés de ce problème. On en parlait et on venait voir et, sans trop savoir comment, on se trouvait séduit et engagé dans l'action." 
Madame Graffeuil : une collaboratrice précieuse
"A cette époque, Mme Graffeuil vint habiter Dalat après la disparition de son mari, qui était Résident Supérieure en Annam. [..] Depuis le jour de la rencontre avec sœur Durand, Mme Graffeuil devint la plus précieuse et la plus puissante de ses collaboratrices dont l'efficacité fut immédiate. Car dès ce jour, Mme Graffeuil s'est engagée dans une action personnelle admirable qui envahira toute sa vie. Ayant participé dès le début avec sœur Durand et William Bazet à la création de l'œuvre, par la suite, en France, elle en sera l'âme, traçant et suivant pas à pas pour chacune de ses filles un chemin de bonheur. Et ce sont des milliers d'enfants qui ont ainsi été sauvés d'un enlisement en Indochine."
 
L'amiral Decoux
"Naturellement, l'amiral Decoux désira connaître sœur Durand. La rencontre eut lieu sur le chantiers du Domaine de Marie. Ce fut le coup de foudre ! L'amiral, qui était accompagné de sa femme, fut subjugué par la personnalité de la sœur, par l'audace calculée de ses projets et de la sûreté de son jugement. D'emblée, il apporta  à l'œuvre des métis la totale collaboration des services sociaux de l'armée, mais en plus, il lui confia la fondation d'une école de monitrices d'éducation physique dans le cadre du vaste mouvement sport-jeunesse qu'il voulait promouvoir en Indochine."
Madame Decoux, née Suzanne Humbert, femme de l'Amiral Jean Decoux, gouverneur de l'Indochine de 1940 à 1945 est enterrée ici. Grande bienfaitrice du couvent, elle s'est tuée en voiture le 6 janvier 1944 en rendant visite au couple Bao Dai.
La vue depuis le Domaine de Marie, en 2007







Sur la route, une villa "La Biche au Bois". Son locataire, fonctionnaire forestier, découvre avec surprise le sens de cette phrase. Il est très heureux de vivre dans cette maison, qu'il partage avec 3 autres familles.    
Tran Phu

L'ancienne Poste ; aujourd'hui le bar restaurant branché "Larry's Bar" du Dalat Palace, rue Tran Phu. Repas à 48 USD sans les boissons en 2007...
Rue Yersin,       









Très belle maison, sur une colline au milieu des pins. Hôtel privé appartenant à un syndicat
Rue Hai Thuong 
En face de l'hopital Hai Thuong, école maternelle (à l'entrée des districts 5 et 6). C'était autrefois la régie de la douane

  
Rue du 3 février 3 Thang 2

Avenue large, riche en nombreuses maisons spacieuses 
Secteur 9
   







Très belle maison "normande" cachée par les arbres 
Rue YAGOUT et Tran Binh Trong (district 5)
Bel ensemble de villas homogènes. Sans être les plus belles de Dalat, elles sont nombreuses dans ce quartier. 
     
  

Église des minorités ethniques, non loin des chutes de Cam ly, près du centre de passage du permis de conduire (au bout de Tran Binh Trong)
Dans le secteur 5
   
Rue Phan Dinh Phung

Maison dont la facade est en bois ; c'est la seule maison de ce type rencontré à Dalat
Eglise rue Nguyen Van Troi








Jolie panorama du haut de cette colline, en centre ville
Secteur Quang Trung - Phan Chu Trinh - Secteur 9
      

A proximité de l'intersection Tran Quy Cap
 
  
      

Au détour d'une rue dans le secteur 9
Secteur Rue Pasteur
Nombreuses maisons dans les rues du district 4 (Huynh Thuc Hang, Nguyen Viet Xuan...)
   

 

Sœurs de Saint Paul de Chartres (emplacement à confirmer)
Secteur Tran Hung Dao
Les maisons dans les cadres de verdure les plus vastes. Certaines maisons sont actuellement en rénovations.
   

    
A 75 ans d'écarts, le garage Saga et ce qu'il en reste (la facade)
Quartier 10
Bâtiments occupés autrefois par la communauté religieuse des Sœurs Franciscaines.
Actuellement, l'école est gérée par le gouvernement, tandis que les bâtiments conventuels sont abandonnés et squattés. La zone est très excentrée et particulièrement humide. Située à proximité d'une ancienne résidence de Bao Dai, le Dinh 1.
   
Extérieur de Dalat

Sur la route du Lang Bian


Paysage vu du Lang Bian

Histoire de la Ville de Dalat -Revue Indochine - Sud Est Asiatique - 1954
"Le reconnaissance du Docteur Yersin commença, lorsque le 21 juin 1893, venant de Nha Trang, le docteur Yersin déboucha de la foret sur les vastes étendues du plateau et fut frappé par la beauté des sites et la douceur du climat. Sans doute pressentait il alors l'avenir et le destin de cette région, car il se mit aussitôt à en étudier les conditions climatériques et à tracer les grandes lignes d'un vaste projet d'assainissement et d'action antipaludéenne.
4 ans plus tard, en  juillet 1897, le Président Doumer, alors gouverneur général de l'Indochine, avait l'intention d'établir dans la région montagneuse du sud du centre Vietnam un sanatorium comparable à ceux de l'inde. En réponse à une lettre personnelle de M Doumer, le docteur Yersin lui indiqua le plateau de lang bian comme répondant le mieux à ses désirs.
Le gouverneur général adopta les conclusions du docteur Yersin et commença à réaliser son projet. Successivement, deux missions, celle de Thouard et de Cunhac en 1897 et celle de Guynet et Cunhax en 1898, s'efforcèrent de déterminer et préciser les voies d'accès. De nombreuses autres missions complétèrent ces reconnaissances de la première heure. En 1898, une station météorologique et d'essais agricoles fut crée à Dankia, suivie bientôt d'un poste de la Garde indochinoise. En mars 1899, M. Doumer vint lui même reconnaître l'emplacement du futur Dalat. Accompagné du Docteur Yersin, il parvint au plateau du Lang Bian par Phan Rng, Krongpha, Belle vue, Dran et l'arbre Broyé.
4 chalets en bois furent alors édifiés: ceux du gouverneur général, de la résidence et de la garde indochinoise. Un maire fut désigné. Une sala (le futur Hôtel du Lac) fut installée en 1907. Les grandes lignes de la ville furent tracés. Elles suivaient les pistes montagnardes établies sur les lignes de crêtes.
Mais en 1902, après le départ de M Doumer, tous ces projets furent pratiquement abandonnés,. Les crédits furent supprimés,  les constructions arrêtés. Seuls demeuraient encore sur place quelques agents, un maire, un  inspecteur de la Garde indochinoise et un chef de la station agricole. Les difficultés d'accès apparurent insurmontables aux continuateurs de M Doumer.
La 2eme phase, qu'on pourrait appeler "l'éveil de Dalat" s'ouvrit en novembre 1915. Les circonstances étant devenues plus favorables, le gouverneur général Roume décida de donner  une nouvelle impulsion à l'œuvre abandonnée. Le réseau routier, considérablement développé, facilitait l'accès au lang bian. La première guerre mondiale empêchant les séjours en France, incitait les européen d'Indochine à venir se reposer dans une région au climat salubre et vivifiant.
Afin de favoriser le tourisme naissant, M Roume décida, en 1916, d'installer  un grand hôtel à Dalat. Ses successeurs continuèrent le travail entamé, accordèrent des crédits et développèrent les routes. Le nombre de chalets augmenta très rapidement. A la fin de la guerre 14-18, on en comptait une dizaine. On commença en 1919 à aménager le lac. A partir de 1920, la route de Phan Rang à Dalat, passant par le col de Belle Vue, et par Dran, devint praticable. La Poste actuelle, l'institution Nazareth, l'immeuble actuel du Trésor furent alors édifiés. Le Lang Bian Palace fut inauguré en 1922. Une première usine électrique fut installée ne 1918 et l'usine des eaux en 1920.
L'architecte Hebrard, à qui le gouverneur général Long avait confié la charge de dresser un plan d'aménagement de Dalat, termina le travail en 1923. Ce fut le début de la 3eme phase, qui fit de Dalat une station d'altitude.
Jusqu'en 1940, Dalat se développa progressivement. En 1933, une route directe reliant Saigon à Dalat, par le col de Blao, fut ouverte à la circulation ; les travaux du chemin de fer crémaillère, commencé en 1920, furent achevés et le rail atteignit Dalat en 1933. La construction du Lycée Yersin, décidée en 1927, se poursuivra jusqu'en 1941. L'institution Notre Dame du Lang Bian et celle du Sacré Cœur furent édifiés, la 1ere entre 1934 et 1936, la seconde en 1940.
Au nord ouest et au sud de la ville, la population vietnamienne, qui n'avait pas cessé d'augmenter, forma ses quartiers et passa de 1500 habitants en 1932 à 13.000 en 1940. Cependant, l'équipement urbain de la cité se poursuivit par la création d'une nouvelle usine électrique en 1927 et le développement du service des eaux. Un plan d'extension fut établi en 1937.
La quatrième phase, enfin, aboutit à l'organisation de la cité. Depuis 1940, Dalat connaît une grande prospérité. Une usine hydroélectrique est en construction  à Ankroet, sur le Dadung, pour parfaire l'alimentation en électricité de la ville qui s'agrandit de plus en p lus. Le nombre de villas, qui était de 530 en 1940, s'éleva jusqu'à 1000 ç ka fun de 1945. Parallèlement, la population s'accrut et dépassa 20.000 habitants à la fin de 1942.
Mais la situation internationale ne permet pas la réalisation du plan d'urbanis,e rendu exécutoire par l'arrêté du 27 avril 1943 et Dalat, comme tout le reste du Vietnam, eut a souffrir des tristes évènement de 1946.
Cependant, depuis le transfert des compétences et services au gouvernement du Vietnam, les autorités vietnamiennes prennent à cœur de poursuivre l'œuvre interrompue et s'efforcent de réaliser une cité modèle. Un nouveau plan d'urbanisme est à l'étude, visant à faire de Dalt une station d'altitude de premier ordre, tout en assurant son développement économique et social.
A la fin de 1952, Dalat compte 25.041 âmes, dont 23.072 Vietnamiens et autochtones appartenant à la tribus des Lat, 1217 européens (non compris les militaires) et 752 Chinois. "
Sommaire
LA CLEF-DES-CHAMPS
(Saint-Georges-de-Didonne)
in Chassebœuf (Frédéric), Villas de la côte de Beauté,
Patrimoines et médias, Prahecq, octobre 2006, 336 p.
LeClefDesChamps.JPG (136082 octets)
"Ostensiblement tournée vers les terres et non vers la mer, La Clef des Champs fut élevée dans les premières années du XXe
siècle. Située à deux pas de l'église de Saint-Georges-de-Didonne, la villa voisinait, lors de sa construction, avec les prairies et les
terres cultivées en bordure du village. De nos jours, l'urbanisation galopante fait paraître son nom quelque peu insolite.
Deux signatures qui ont été gravées à proximité de la porte d'entrée apprennent que la villa fut élevée par l'entrepreneur
René Bariteau* (1874-1972), un homme très actif à Saint-Georges dans les premières années du XXe siècle, et selon les plans de
l'architecte Georges Vaucheret* (1867-1957), originaire de Lyon. Ce dernier, qui a laissé de nombreuses œuvres sur la Côte de Beauté, en particulier à Saint-Georges-de-Didonne où il semble avoir résidé un temps, devait considérer La Clef des Champs comme l'une de ses plus belles réalisations, puisqu'elle fit l'objet d'une notice dans Villas et Cottages du bord de l'Océan, un recueil publié par Charles Massin, en 1926. Contrairement aux autres villas de Georges Vaucheret, qui sont le plus souvent dépourvues de soubassement et se déclinent à partir de volumes simples conjugués à des formes angulaires, La Clef des Champs est surélevée et multiplie les décrochements à partir d'un plan qui additionne carrés et rectangles sans ordre apparent. Il s'agit là d'une architecture que l'on peut qualifier d'organique avant la lettre et d'une conception à la fois exceptionnelle et inattendue. Les pièces principales forment un noyau central auquel sont accolés, çà et là, différentes structures légères, parfois en surplomb comme le cabinet de toilette à pans de bois qui domine le perron d'entrée, renfermant des pièces secondaires. Il en résulte une architecture difficilement classable parmi les grands types de villas qui se sont répandus dans les stations balnéaires, au début du XXe siècle. La Clef des Champs figure incontestablement parmi les réalisations les plus originales du début de la carrière de Georges Vaucheret, et c'est sans doute à ce titre qu'elle fut publiée en 1926 dans le recueil de Charles Massin."
Retour à "Dalat"
http://belleindochine.free.fr/sommaire.htm
  Đến Deauville ( Pháp ) và nghĩ về Đà Lạt !

Lần đầu tiên đặt chân đến Paris, chúng tôi đã có ngay cảm giác gần gũi vì thành phố này có nhiều điểm giống Sài Gòn. Cậu hướng dẫn viên người Pháp nghe vậy đã lịch sự “sửa lưng”: “Nói chính xác là Sài Gòn giống Paris, bởi nhiều công trình nổi tiếng ở Hòn ngọc Viễn Đông đều do các bậc tiền bối của chúng tôi xây dựng”.

Cảm giác ấy một lần nữa lại đến khi đứng trước những ngôi nhà cổ ở Deauville, bỗng thấy hình như có nét thân quen và trong một thoáng cứ tưởng mình đang dạo chơi phố xá Đà Lạt.

Là một thị trấn du lịch nằm trong vùng hành chính Basse-Normandie với khoảng 5.000 cư dân, Deauville nổi tiếng thế giới về mô hình thành phố nghỉ dưỡng kết hợp hài hòa giữa đời sống hiện đại đầy tiện nghi xa hoa trong một địa phương giàu tính lịch sử với các di sản kiến trúc.

Đô thị du lịch đậm tính nhân văn

Nhà kiến trúc colombage ở Deauville được bảo tồn nghiêm ngặt

Anh bạn nhà báo Trần Công Sung xa xứ từ 40 năm qua tình nguyện làm hướng dẫn viên đưa chúng tôi đi thăm Deauville, chỉ cách Paris hai giờ chạy xe. Thị trấn xinh đẹp ven biển này tuy nhỏ bé nhưng tập hợp mọi phương tiện đủ để thỏa mãn nhu cầu thụ hưởng đời sống trưởng giả giàu tính nhân văn.

Deauville có nhiều khách sạn cùng sòng bạc sang trọng, các trường đua ngựa danh tiếng, bến cảng neo đầy du thuyền đắt tiền, với không ít giáo đường cổ kính cùng các lễ hội truyền thống và nhiều sự kiện văn hóa diễn ra quanh năm.

Nơi đây còn thu hút du khách nhờ vào yếu tố là một trong những bãi biển hiếm hoi có thể tắm được ở vùng Normandie. Như các bậc phong lưu phô trương sự phú quý bằng “gấm lót đàng, vàng lót ngõ”, ngay từ năm 1930 Deauville đã không tiếc tiền nhập ván gỗ azobe từ châu Phi lót cả con đường dọc theo bãi tắm, để quý thiên kim tiểu thơ và vương tôn công tử có thể bách bộ dạo chơi mà khỏi sợ cát biển lấm những đôi chân ngà ngọc.

Ngày nay, dài theo con đường lát ván sạch tinh tươm ấy là dãy phòng khang trang phía trước có lan can xinh xắn. Những bảng gỗ dựng trên các lan can đập vào mắt du khách tên tuổi hàng loạt ngôi sao điện ảnh thế giới như Charlton Heston, Arnold Schwarzenegger, Elizabeth Taylor, Tom Cruise, Sylvester Stallone, Al Pacino...

Đây chính là một ý tưởng thường được lấy làm ví dụ điển hình trong việc marketing. Chẳng là, từ 1975 Deauville bắt đầu tổ chức Liên hoan phim Mỹ hàng năm. Để được rình rang phải nghĩ ra cách thu hút cho được nhiều “sao” đến đây. Thế là một sáng kiến được đưa ra: thành phố sẽ lưu danh miễn phí các diễn viên nổi tiếng khi họ tới tham dự festival.


Chợ phiên, diễn ra hàng tuần từ năm 1866

Được lưu danh ở nước Pháp thanh lịch ư? Còn gì bằng! Thế là các ngôi sao thượng thặng lần lượt đến, ào ạt đến, tạo cơ hội cho Deauville thu hút thêm nhiều du khách vào những dịp liên hoan phim.

Từ năm 1999, Deauville lại tổ chức thêm Liên hoan phim châu Á. Việt Nam từng góp mặt tại Deauville Asia Festival với Mùa ổi của đạo diễn Đặng Nhật Minh, Mê Thảo thời vang bóng của đạo diễn Việt Linh, Hạt mưa rơi bao lâu của đạo diễn Đoàn Minh Phượng, nhưng chỉ tham gia trong chương trình toàn cảnh chứ không tranh giải Bông sen vàng.

Đắt đỏ nhưng không dễ tiêu tiền

Quảng trường Morny, nơi hội tụ tám con đường chính

Đến Deauville rồi mới thấy muốn tiêu tiền ở một trong những đô thị đắt đỏ nhất nước Pháp chẳng phải là chuyện dễ dàng.

Định vào sòng bạc thử thời vận ư? Không thoải mái như Las Vegas của Mỹ, các casino ở đây quy định khách muốn vào… chung tiền phải ăn mặc complet chỉnh tề, có nghĩa là dân du lịch bụi với áo pull quần soọc như chúng tôi bị… cấm cửa!

Tiếp tục lững thững bách bộ qua một cửa tiệm nhỏ xinh, định mua chiếc khăn quàng cổ đơn giản để kỷ niệm, nhưng lúc nhìn thấy bảng giá thì thất kinh: 80 euro, vị chi gần hai triệu đồng Việt Nam. Vừa cầm bộ quần áo trẻ con lên đã vội vã buông tay như bị bỏng, khi nhìn thấy cái giá cao ngất ngưởng trên 200 euro!

Deauville có một trường đua ngựa lớn, nhưng chúng tôi đến đây không đúng mùa tranh giải Deauville Polo Cup, bắt đầu vào tháng 8 hàng năm. Một trong các hoạt động thu hút du khách ở Deauville là những cuộc triển lãm và bán ngựa đua rặt nòi, lôi cuốn khách mua khắp nơi trên thế giới đến tham gia đấu giá mà nhiều nhất là những tỉ phú Ả Rập. Tất nhiên dân du lịch bụi Việt Nam chẳng có tham vọng tranh hơn thua với các đại gia này rồi.

Thế là, yên tâm với túi tiền chưa sứt mẻ, chúng tôi ghé vào một quán nước có bày bàn ghế ở vỉa hè, thú vị quan sát những cư dân hồn hậu địa phương đang nhàn tản ngồi nhâm nhi cà phê, tán gẫu hay đọc báo mà cảm giác như đang ngồi ở góc phố nào đó của Đà Lạt.

Cùng vạch xuất phát

Nhìn lại quá khứ hình thành của Deauville và Đà Lạt, dễ dàng thấy có những điểm tương đồng


Tòa thị chính xinh đẹp trên trăm tuổi đời

Thế kỷ XIX, Deauville chỉ là một làng chài nhỏ với vỏn vẹn 104 cư dân. Năm 1859, ba người gồm công tước Morny vốn là anh em cùng mẹ khác cha với Napoleon III, viên chức nhà băng Armand Donon và bác sĩ Joseph Olliffe đã mua vùng đất đầm lầy ven biển với giá 800.000 franc, rồi lên phương án xây dựng một khu nghỉ mát cao cấp, mà trong vòng mười năm sau đã trở thành điểm đến ưa chuộng của tầng lớp quý tộc không chỉ Paris mà cả châu Âu.

Cũng vào khoảng thời điểm ấy, ở Việt Nam, vào ngày 21/6/1893 bác sĩ Alexandre John Emile Yersin trên đường thám hiểm đã khám phá vùng cao nguyên Lang Biang hoang sơ tuyệt đẹp. Theo lời đề nghị của ông, viên toàn quyền Pháp Paul Doumer đã quyết định xây dựng nơi đây thành một trung tâm nghỉ mát với tư tưởng chủ đạo là tôn trọng thiên nhiên và duy trì vẻ đẹp của cảnh quan. Đà Lạt hầu như là đô thị duy nhất của nước ta được xây dựng theo ý tưởng và quy hoạch nhất quán ngay từ đầu để làm nơi nghỉ dưỡng.

Tầm nhìn xa của nhà quy hoạch và sáng tạo tinh tế của các kiến trúc sư Pháp thời đó đã biến vùng rừng núi hoang dã, chỉ sau mấy thập niên, thành nơi hội tụ một “bộ sưu tập” nhiều phong cách tiêu biểu của kiến trúc Pháp cuối thế kỷ XIX như kiến trúc Anglo - Normand, kiến trúc miền cao nguyên trung phần Pháp, miền núi Alpes và phía Nam, kiến trúc miền Pyrénées và Basque.

Hai di sản kiến trúc: điểm giống nhau…

Thật ra, không chỉ bầu không khí yên tĩnh và tiết trời se lạnh của Deauville làm gợi nhớ Đà Lạt, mà chủ yếu chính là cái hồn thể hiện qua kiến trúc. Hầu hết nhà cổ ở đây xây cất theo kiến trúc colombage đặc thù của vùng Normandie, nóc nhà với mái xéo cao, mặt tiền có kết cấu gồm khung sườn bằng gỗ được xây chèn gạch. Màu gỗ nâu xen kẽ với màu vôi của tường hình thành nét trang trí thật đặc sắc, đẹp như tranh vẽ trong chuyện cổ tích. Một trong những ngôi nhà tiêu biểu là Tòa thị chính, được xây dựng vào năm 1881 cho đến nay vẫn giữ nguyên kiến trúc thuở ban đầu.

Đà Lạt của chúng ta cũng có khá nhiều biệt thự mang kiến trúc colombage vùng Normandie, cho thấy những người Pháp tha phương đã mang chút hồn nhà sang đất Việt hầu vơi nỗi nhớ cố hương. Cho tới năm 1949, toàn thành phố có trên 1.000 biệt thự, dinh thự hoàn thiện về mặt thẩm mỹ và hoàn chỉnh về mặt kỹ thuật, hài hòa với cảnh quan tạo thành một diện mạo riêng cho Đà Lạt.


Villa kiến trúc colombage ở Đà Lạt

Với giá trị kiến trúc được giới chuyên môn trong lẫn ngoài nước thừa nhận, các nhà khoa học, kiến trúc sư và chuyên gia về đô thị đã cùng kiến nghị Chính phủ công nhận thành phố này là “Đô thị di sản”. Điều trớ trêu, yêu cầu trên được đưa ra tại một hội nghị bàn về việc… cứu nguy cho sự rách nát hình hài của Đà Lạt.

Còn Deauville thì từ năm 1860 đến 1920 đã hình thành một tổng thể hơn 550 căn nhà gồm biệt thự hoặc nhà vườn cùng chung kiểu dáng địa phương đặc thù thành nơi lý tưởng cho du lịch thư giãn qua đó nhanh chóng phát triển về kinh tế.

Với sự tăng tốc mạnh mẽ của ngành du lịch biển và để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của du khách, Deauville luôn phải tự cải tiến với hệ thống lưu trú đa dạng cùng các công trình giải trí hoành tráng. Chính từ đó dấy lên sự lo lắng phải giữ gìn tổng thể kiến trúc đô thị hơn trăm tuổi đời và Hội đồng thị chính Deauville đã kêu gọi sự bảo trợ của chính phủ trung ương cũng như sự đóng góp của cộng đồng doanh nhân địa phương cùng chung tay bảo vệ giá trị di sản này.

Và khác nhau

Từ năm 2003, Deauville được đưa vào danh mục “Khu di sản kiến trúc và phong cảnh ngoại ô” (ZPPAUP - Zone de Protection du Patrimoine Architectural, Urbain et Paysager), nghĩa là chính thức nằm trong chương trình bảo tồn di sản nghiêm ngặt của Chính phủ Pháp. Nhờ vậy cho tới nay không ít căn nhà cổ tuy đã thay đổi nhiều đời chủ nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc và cảnh quan, chỉ được phép sửa sang tu bổ những chỗ bị hư hại.

Còn Đà Lạt của Việt Nam? Hàng chục năm qua, môi trường và cảnh quan nơi đây đã không ngừng xuống cấp, mà cho tới nay các đơn vị hữu quan vẫn chưa tìm ra thuốc đặc trị để cứu chữa. Điều này cho thấy chúng ta chưa có thái độ ứng xử đúng mực đối với di sản của quá khứ. Rồi đây, có khi thế hệ mai sau sẽ chỉ còn biết đến một Đà Lạt từng là “kho tàng kiến trúc - cảnh quan” trong… phim ảnh hay trong sách vở!

Đến với Deauville vào một ngày hè đẹp trời, tiếc thay ý nghĩ ấy đã làm cho khách từ phương xa tới đây bỗng thấy chạnh lòng nước non!

(Theo Doanh nhân Sài Gòn)
KT MY
http://www.architecturaldesigns.com/french-country-house-plans.asp